Bài giảng Ngữ văn 7 - Bài: Văn nghị luận và việc lập ý cho bài băn nghị luận
Bạn đang xem tài liệu "Bài giảng Ngữ văn 7 - Bài: Văn nghị luận và việc lập ý cho bài băn nghị luận", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
bai_giang_ngu_van_7_bai_van_nghi_luan_va_viec_lap_y_cho_bai.docx
Nội dung text: Bài giảng Ngữ văn 7 - Bài: Văn nghị luận và việc lập ý cho bài băn nghị luận
- Tuần 20, tiết 79 ĐỀ VĂN NGHỊ LUẬN VÀ VIỆC LẬP Ý CHO BÀI VĂN NGHỊ LUẬN I. TÌM HIỂU ĐỀ VĂN NGHỊ LUẬN 1. Nội dung và tính chất của đề văn nghị luận Bài tập SGK trang 21 Đọc các đề văn sau và trả lời câu hỏi. 1. Lối sống giản dị của Bác Hồ. 2. Tiếng Việt giàu đẹp. (Đề có tính chất giải thích, ca ngợi) 3. Thuốc đắng dã tật. 4. Thất bại là mẹ thành công. 5. Không thể sống thiếu tình bạn. 6. Hãy biết quý thời gian. 7. Chớ nên tự phụ. (Đề có tính chất khuyên nhủ, phân tích) 8. Không thầy đố mày làm nên và Học thầy không tày học bạn có mâu thuẫn với nhau không? 9. Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng. (Đề có tính chất suy nghĩ, bàn luận) 10. Ăn cỗ đi trước, lội nước theo sau nên chăng? 11. Thật thà là cha dại phải chăng? (Đề có tính chất tranh luận, phản bác, lật ngược vấn đề) Hỏi: a) Các đề văn trên có thể xem là đề bài, đầu đề được không? Nếu dùng làm đề bài cho bài văn sắp viết có được không? b) Căn cứ vào đâu để nhận ra các đề trên là đề văn nghị luận? c) Tính chất của đề văn có ý nghĩa gì đối với việc làm văn? Trả lời: a) Tất cả các đề văn trên có thể xem là đề bài, đầu đề vì mỗi đề đã nêu lên một vấn đề cụ thể để người nghe, người đọc bàn bạc, xem xét nêu lên quan điểm, tư tưởng của mình -> hoàn toàn có thể làm đề bài cho bài văn sẽ viết. b) Căn cứ vào nội dung và yêu cầu của đề .Đề văn nghị luận có 2 dạng: dạng đầy đủ ( có từ ngữ mệnh lệnh như: em hãy giải thích hoặc em hãy chứng minh..) và dạng tỉnh lược : chỉ nêu lên vấn đề như: 11 đề trên. c) Tính chất của đề có tính định hướng: phương hướng làm bài và thái độ người viết . Nó giúp ta không đi lệch khỏi vấn đề mình quan tâm. Kết luận: - Đề văn nghị luận bao giờ cũng nêu ra một vấn đề để bàn bạc và đòi hỏi người viết bày tỏ ý kiến của mình đối với vần đề đó. Tính chất của đề như ca ngợi,
- phân tích, khuyên nhủ, phản bác . đòi hỏi người làm phải vận dụng các phương pháp phù hợp. - Cấu tạo đề văn nghị luận gồm 2 dạng: + Dạng đầy đủ gồm 2 phần: nêu vấn đề cần nghị luận và yêu cầu phương pháp nghị luận ( VD: Hãy giải thích câu tục ngữ: “ uống nước nhớ nguồn”) + Dạng rút gọn: chỉ nêu vấn đề cần nghị luận ( VD: Mỗi người phải biết quí thời gian) 2. Tìm hiểu đề văn nghị luận Bài tập SGK trang 22 Tìm hiểu đề văn Chớ nên tự phụ - Đề nêu lên vấn đề: không nên tự phụ, tự cao - Đối tượng và phạm vi nghị luận: thói tự phụ của mọi người trong cuộc sống - Khuynh hướng trong đề: phủ định thói tự phụ - Đề đòi hỏi người viết phải: + Giài thích rõ thế nào là tính tự phụ ? + Phân tích những biểu hiện và tác hại của tính tự phụ + Có thái độ phê phán tnh1 tự phụ, tự cao + Khuyên nhủ mọi người phải biết khiêm tốn, học hỏi . Kết luận: Tìm hiểu đề văn nghị luận: + Xác định vấn đề văn nghị luận là gì ? + Phạm vị nghị luận ( Đối tượng cần bàn bạc, đánh giá) +Tính chất nghị luận ( thái độ, khẳng định , ngợi ca hay phê phán..) + Hướng triển khai ( dự tính trình bày nội dung : giải thích, phân tích .) II. LẬP Ý CHO BÀI VĂN NGHỊ LUẬN Cho đề bài: “ Chớ nên tự phụ” 1. Xác lập luận điểm - Luận điểm chính: Tự phụ là một thói của con người ai cũng cần tránh - > tán thành ý kiến “ Chớ nên tự phụ” -Những luận điểm phụ: + Tự phụ khiến cho bản thân cá nhân không biết mình là ai. + Tự phụ luôn kèm theo thái độ khinh bỉ, thiếu tôn trọng những người khác. + Tự phụ khiến cho bản thân bị chê trách, bị mọi người xa lánh. 2. Tìm luận cứ ( lí lẽ và dẫn chứng) a) Các lí lẽ - Giải thích tính tự phụ: tự đánh giá mình quá cao, coi thường mọi người, kể cả người trên mình. - Người ta khuyên ““ Chớ nên tự phụ”vì: + Mình không biết mình. + Bị mọi người khinh ghét. - Tự phụ có hại: + Cô lập mình với người khác. + Hoạt động của mình bị hạn chế không có sự hợp tác dễ dẫn đến sai lầm và không hiệu quả.
- + Gây nên nỗi buồn cho chính mình. b) Các dẫn chứng - Từ chính bản thân mình - Từ thực tế trường lớp, môi trường xung quanh mình - Từ sách báo 3. Xây dựng lập luận Nên bắt đầu từ việc định nghĩa: tự phụ là gì? Tiếp đó làm nổi bật một số biểu hiện của kẻ tự phụ. Sau đó mới nói tác hại của nó.-> phê phán thói tự phụ - > bàn biện pháp khắc phục -> liên hệ bản thân-> khẳng định lại vấn đề. Kết luận: Lập ý cho bài văn nghị luận là: - Xác lập luận điểm, cụ thể luận điểm chính thành các luận điểm phụ - Tìm luận cứ (lí lẽ và dẫn chứng) - Xây dựng lập luận => Cho HS đọc phần ghi nhớ II. LUYỆN TẬP Hãy tìm hiểu đề và lập ý cho đề bài: “Sách là người bạn lớn của con người” 1. Tìm hiểu đề: - Vấn đề cần nghị luận: Vai trò, ý nghĩa của sách đối với cuộc sống con người. - Phạm vị nghị luận: Trong thực tế cuộc sống - Tính chất nghị luận: Khẳng định, đề cao vai trò sách đối với cuộc sống con người - Phương pháp lập luận: Giải thích, chứng minh 2. Lập ý cho đề bài a) Xác lập luận điểm - Sách có tác dụng, ý nghĩa lớn lao đối với cuộc sống con người. b) Tìm luận cứ (lí lẽ và dẫn chứng) - Giải thích câu nói “Sách là người bạn lớn của con người” Lí lẽ Dẫn chứng - Sách ghi lại những tri thức , hiểu biết Từ xa xưa sách đã xuất hiện và phát triển của con người về thế giới khách quan đến thời đại hôm nay. Sách văn học đưa ta vào thế giới tâm -Sách đồng hành với con người trong học hồn con người. tập từ nhỏ đến lớn. + Cho ta thư giãn. - Có nhiều loại sách khác nhau: + Cho ta những vẻ đẹp và thế giới thiên + Sách văn học: bồi dưỡng tâm hồn, tình nhiên và con người đã được khám phá cảm con người. lần thứ hai qua nghệ thuật. + Sách lịch sử: giúp ta hiểu truyền thống + Cho ta hiểu vẻ đẹp của muôn từ - công dựng nước và giữ nước của dân tộc cụ tư duy của con người. Cho ta thuộc + Sách ngoại ngữ: mở rộng thêm cánh cửa lời hay ý đẹp để giao tiếp với mọi thứ trí thức và tâm hồn. quanh ta. + Sách khoa học: Mở mang tri thức .. .
- c) Xây dựng lập luận Nêu vấn đế -> Giải thích vì sao sách là người bạn lớn của con người -> chứng minh sách là người bạn tốt của con người -> Thái độ đúng đắn đối với sách.