Bài giảng Ngữ văn 7 - Bài: Đẽo cày giữa đường

pptx 43 trang Bách Hào 14/08/2025 1140
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài giảng Ngữ văn 7 - Bài: Đẽo cày giữa đường", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • pptxbai_giang_ngu_van_7_bai_deo_cay_giua_duong.pptx

Nội dung text: Bài giảng Ngữ văn 7 - Bài: Đẽo cày giữa đường

  1. VĂN BẢN 2: ĐẼO CÀY GIỮA ĐƯỜNG (Truyện ngụ ngôn Việt Nam)
  2. I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Một số yếu tố của truyện Đẽo cày giữa đường - Thể loại: Truyện ngụ ngôn - Thứ tự: kể xuôi - Nhân vật chính: người thợ mộc - Tóm tắt tình huống, cốt truyện: + Một người thợ mộc bỏ hết vốn liếng mua gỗ về đề đẽo cày bán.. + Mỗi lần có khách ghé vào và góp ý về việc đẽo cày, anh ta đều làm theo. + Cuối cùng, chẳng có ai đến mua cày, bao nhiêu vốn liếng đi sạch.
  3. 2. Phân tích: a. Hoàn cảnh của người thợ mộc - Người thợ mộc dốc hết vốn liếng ra để mua gỗ để làm nghề đẽo cày => là sự kiện chính của câu chuyện. - Bối cảnh truyện: + Không gian: Bên vệ đường, nơi có nhiều người qua lại. + Thời gian: cụ thể: “Một hôm”, “mấy hôm sau”.
  4. b. Những lần góp ý và hành động của người thợ mộc Người Nội dung góp ý Cử chỉ, hành động, ý nghĩ của góp ý người thợ mộc Thứ 1 - Phải đẽo cày cho cao, cho to - Cho là phải_ thì mới dễ cày. -> đẽo. ->cày vừa to vừa cao. Thứ 2 - Đẽo nhỏ hơn, thấp hơn thì mới - Cho là “có lí” (là phải), ->liền dễ cày. đẽo. ->cày vừa nhỏ, vừa thấp. Thứ 3 - Đẽo cày cho thật cao, thật to - Nghe nói được nhiều lãi, gấp đôi, gấp ba để voi cày được. ->Đẽo hết số gỗ còn lại loại cày để voi cày Kết quả: Chẳng ai đến mua, gỗ hỏng hết, vốn liếng đi sạch.
  5. - Đặc điểm tính cách nhân vật người thợ mộc: - Hành động của nhân vật: Mỗi người góp một ý, anh thợ mộc đều làm theo một cách mù quáng, mà không có chính kiến để cân nhắc, xem xét những ý kiến đó có đúng hay phù hợp với công việc của mình như thế nào. =>Đặc điểm nhân vật: + Thiếu kiến thức. + Dễ thay đổi, không có chủ kiến, không có lập trường, suy nghĩ không chín chắn. + Không biết kết hợp giữa ý kiến góp ý của mọi người với suy nghĩ của chính mình để cân nhắc, lựa chọn. =>Hậu quả: “Vốn liếng đi đời nhà ma.”
  6. c. Bài học * Bài học từ câu chuyện: - Câu chuyện muốn khuyên nhủ mọi người biết giữ lập trường, quan điểm vững vàng, kiên định và bền chí để đạt được mục tiêu của mình. - Khi đứng trước một quyết định của bản thân, chúng ta không nên dao động trước ý kiến của người khác. Cần phải biết lắng nghe, nhưng nghe một cách chọn lọc, có cân nhắc, có suy nghĩ đúng đắn. * Ý nghĩa chính của thành ngữ “Đẽo cày giữa đường”: hàm ý chê bai người không có lập trường, chính kiến của bản thân,, luôn thay đổi theo ý kiến của người khác, cuối cùng chẳng đạt được kết quả gì.
  7. d. Đặc sắc nội dung và nghệ thuật * Nghệ thuật: - Cách xây dựng nhân vật: gần gũi, sống động thông qua nhiều phương diện như ý nghĩ, hành động, việc làm. - Tạo bối cảnh câu chuyện độc đáo. - Các tình tiết truyện sắp xếp hợp lí, mức độ gay cấn tăng dần, tạo sức lôi cuốn. - Kết cấu ngắn gọn, dễ hiểu, ý nghĩa sâu sắc. - Cách kể bất ngờ hài hước, kín đáo.
  8. * Nội dung: - Mượn câu chuyện về người thợ mộc để ám chỉ những người thiếu chủ kiến khi làm việc và không suy xét kĩ khi nghe người khác góp ý.
  9. II. LUYỆN TẬP DẠNG 2: THỰC HÀNH ĐỌC HIỂU Đọc kĩ văn bản Đẽo cày giữa đường, SGK tr.6 và trả lời câu hỏi: Câu 1. Quan hệ giữa các phần trong văn bản là quan hệ: A.Nhân quả. B. Giả thiết. C. Tăng tiến. D. Nhượng bộ.
  10. Câu 2. Em đồng ý với ý kiến nào sau đây? Vì sao? a) Truyện đả kích sâu cay những kẻ lừa bịp người khác, khiến họ phải làm theo ý mình. b)Truyện phản ánh cuộc đấu tranh giữa người nhẹ dạ cả tin và kẻ lừa lọc, hãm hại người khác bằng cách giả vờ cho nhận xét, góp ý. c) Dùng tiếng cười nhẹ nhàng châm biếm, dân gian muốn phê phán những người không có chủ kiến, không suy nghĩ kĩ lưỡng để hành động trước những gióp ý của người khác.
  11. Câu 3. So sánh nội dung bài học gửi gắm trong truyện Đẽo cày giữa đường với truyện dưới đây: TREO BIỂN 1. Ở một cửa hàng bán cá làm cái biển, đề mấy chữ to tướng: ” Ở đây có bán cá tươi” [1]. Vừa treo biển lên, có người qua đường xem, cười bảo: – Nhà này xưa nay quen bá cá ươn [2] hay sao mà bây giờ lại phải đề biển là “bán cá tươi”? Chủ cửa hàng nghe nói thế, xóa ngay chữ “tươi” đi.
  12. [1] Tươi: trong câu chuyện muốn nói đến cá mới đánh bắt về, chưa bị biến chất. [2] Ươn: ở đây ý muốn chỉ cá không còn tươi nữa, bắt đầu biến chất và thường có mùi hôi. [3] Bắt bẻ: vạch thiếu sót hết điều này đến điều khác để làm khó dễ.
  13. Câu 4. Em thử tưởng tượng người thợ mộc và người bán cá gặp nhau thì họ sẽ nói chuyện với nhau những gì? *GỢI Ý ĐÁP ÁN: Câu 1. Đáp án A. Câu 2. Lựa chọn C) vì A và B không phù hợp ý nghĩa, bài học của câu chuyện.
  14. Câu 3. - Khi nghe người khác góp ý về công việc mình làm, không nên thấy bất cứ ai có ý kiến gì cũng cho là đúng mà vội làm theo ngay, không chịu suy xét kĩ càng, phân biệt điều nên nghe, điều không nên nghe để tự mình chủ động giải quyết công việc của mình cho hợp lí. - Câu chuyện Treo biển trên đây cho ta thấy kết quả của việc cả nghe người khác, đã khiến cho người chủ nhà hàng bán cá có việc làm rất kì khôi là bỏ hẳn tấm biển đi, mà theo lẽ thông thường cửa hàng buôn bán nào cũng phải có. - Truyện này mang ý nghĩa khá giống với câu chuyện Đẽo cày giữa đường. Đều là những bài học ý nghĩa về việc cả tin nghe theo lời người khác, mà không có chính kiến của mình.
  15. Câu 4. HS dựa vào điểm tương đồng về ý nghĩa các chi tiết, cách kết thúc trong hai câu chuyện để tưởng tượng, miễn sao hợp lý, gắn với bài học rút ra, mang ý nghĩa tích cực,
  16. ĐỀ SỐ 2 Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới: Cậu bé chăn cừu Một ngày nọ, có một cậu bé chăn cừu buồn rầu ngồi trên sườn núi nhìn những con cừu của mình. Để làm vui vẻ cho mình, cậu hít một hơi thật sâu rồi la lên: “Sói! Sói! Có sói đang đuổi bắt cừu!”. Dân làng chạy ngay lên núi để giúp cậu bé đuổi chó sói. Nhưng khi họ đến đỉnh núi thì không thấy con chó sói nào hết. Cậu bé nhìn những khuôn mặt đang giận dữ của dân làng và cười.
  17. Người dân liền bảo với cậu bé: “Này cậu bé chăn cừu, đừng hô sói khi không có chó sói.”. Rồi họ tức giận bỏ xuống núi. Hôm sau, cậu bé lại la toáng lên: “Sói! Sói! Có sói đang đuổi bắt cừu!”. Vì sự vui sướng nghịch ngợm của mình, cậu bé lại thấy người dân chạy lên núi để giúp cậu đánh đuổi sói. Nhưng khi người dân không thấy chó sói đâu, họ liền nghiêm nghị nói với cậu bé: “Hãy dành bài ca ssangs sợ của cậu cho khi nào có việc xấu thực sự! Đừng hô sói khi không có chó sói!”. Nhưng cậu bé chỉ nhe răng cười, nhìn họ tức giận xuống núi một lần nữa.
  18. Về sau, cậu bé nhìn thấy một con sói thực sự đang rình mò đàn cừu của cậu. Rất hoảng sợ, cậu bé vắt chân lên chạy, dùng hết sức la toáng lên: “Sói! Sói!”. Nhưng dân làng nghĩ rằng cậu bé lại lừa họ nên không ai chạy lên núi. Hoàng hôn xuống, mọi người tự hỏi tại sao không thấy cậu bé và đàn cừu trở về. Họ liền leo lên đồi để tìm cậu bé và họ thấy cậu đang vừa khóc vừa nói: “Thực sự đã có một con sói ở đây! Bầy cừu đã chạy tan tác! Cháu đã hô có sói! Tại sao các bác không tới?”.
  19. Khi trở về làng, một cụ già đã khoác tay lên vai cậu bé và an ủi: “Sáng mai, chúng ta sẽ giúp cháu tìm những con cừu bị mất, không ai tin một kẻ nói dối ngay cả khi họ đang nói thật, cháu ạ!”. (Ê-dốp, in trong Tuyển tập truyện tranh Ê-dốp – Cậu bé chăn cừu. Đặng Ngọc Thanh Thảo – An Bình dịch, NXB Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2010) a. Truyện kể về những nhân vật nào? Ai là nhân vật chính? b. Bối cảnh của truyện có gì độc đáo? c. Truyện nêu lên được bài học gì? Bài học ấy có liên quan với bản thân em như thế nào?
  20. Trả lời: a. Các nhân vật: cậu bé chăn cừu, dân làng, đàn cừu, chó sói. Cậu bé chăn cừu là nhân vật chính bởi các tình tiết của truyện đều xoay quanh nhân vật này. b. Bối cảnh của truyện là cậu bé chăn cừu vì một mình chăn đàn cừu thật buồn chán, tẻ nhạt nên đã nghĩ ra cách nói dối dân làng có chó sói đến ăn thịt đàn cừu để mọi người chạy đến cho vui. c. Truyện nhắc nhở mọi người không nên nói dối. Những ai nói dối sẽ đánh mất niềm tin và sự tôn trọng của người khác đối với bản thân mình. Nói dối là một tính xấu, gây nhiều tác hại khôn lường, mọi người cần phải tránh. Câu chuyện là bài học cho lối ứng xử của bản thân chúng ta, đó là cần phải biết vui đùa đúng lúc, đúng chỗ, không lấy việc nói dối làm trò đùa