Đề thi học sinh giỏi Ngữ Văn 9 (Phần 2) - Năm học 2024-2025 - Trường THCS Thái Sơn (Có đáp án)

docx 6 trang Bách Hào 12/08/2025 40
Bạn đang xem tài liệu "Đề thi học sinh giỏi Ngữ Văn 9 (Phần 2) - Năm học 2024-2025 - Trường THCS Thái Sơn (Có đáp án)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxde_thi_hoc_sinh_gioi_ngu_van_9_phan_2_nam_hoc_2024_2025_truo.docx

Nội dung text: Đề thi học sinh giỏi Ngữ Văn 9 (Phần 2) - Năm học 2024-2025 - Trường THCS Thái Sơn (Có đáp án)

  1. Lê Thị Xuân – Trường THCS Thái Sơ.n. An Lão. Hải Phòng. Câu hỏi KHÔNG CÓ GÌ TỰ ĐẾN ĐÂU CON Không có gì tự đến đâu con Quả muốn ngọt phải tháng ngày tích nhựa Hoa sẽ thơm khi trải qua nắng lửa Mùa bội thu trải một nắng hai sương. Không có gì tự đến, dẫu bình thường Phải bằng cả đôi tay và nghị lực Như con chim suốt ngày chọn hạt Năm tháng bao dung nhưng khắc nghiệt lạ kỳ. Dẫu bây giờ bố mẹ - đôi khi Có nặng nhẹ yêu thương và giận dỗi Có roi vọt khi con hư và dối Thương yêu con đâu đồng nghĩa với chiều. Đường con đi dài rộng rất nhiều Năm tháng nụ xanh giữ cây vươn thẳng Trời xanh đấy nhưng chẳng bao giờ lặng Chỉ có con mới nâng nổi chính mình. Chẳng có gì tự đến - Hãy đinh ninh. (Trích Lời ru vầng trăng, Nguyễn Đăng Tấn, NXB Lao Động, 2000, tr.42) * Chú thích: Nguyễn Đăng Tấn là một nhà báo, một nhà thơ với phong cách thơ bình dị nhưng giàu chất triết lí, thể hiện những suy ngẫm, trăn trở về tình yêu thương, về lẽ sống của con người. Bài thơ “Không có gì tự đến đâu con”, được nhà thơ Nguyễn Đăng Tấn viết tặng con là Nguyễn Đăng Tiến vào khoảng năm 1995, khi Tiến đang học lớp 3. Bài thơ được in trong tập thơ “Lời ru vầng trăng”, xuất bản năm 2000. Bàn về nghệ thuật, giáo sư Lê Ngọc Trà cho rằng: “Nghệ thuật bao giờ cũng là tiếng nói của tình cảm con người, là sự tự giãi bày và gửi gắm tâm tư”. Viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của em về ý kiến trên qua việc phân tích bài thơ “Không có gì tự đến đâu con” của tác giả Nguyễn Đăng Tấn.
  2. Đáp án Tiêu chí Nội dung cần đạt Điểm Kĩ năng - Câu này kiểm tra năng lực viết bài nghị luận văn học của thí sinh; đòi 0.5 hỏi thí sinh phải huy động kiến thức về lí luận văn học, tác phẩm văn học, kĩ năng tạo lập văn bản, khả năng cảm nhận văn chương của mình để làm bài. - Thí sinh có thể cảm nhận và kiến giải theo những cách khác nhau, nhưng phải có lí lẽ, căn cứ xác đáng. Kiến thức Yêu cầu cụ thể Mở bài: 0,5 Nêu vấn đề nghị luận: Nghệ thuật bao giờ cũng là tiếng nói của tình cảm con người, là sự tự giãi bày và gửi gắm tâm tư”. Thân bài: * Giải thích: 0.5 -“Nghệ thuật”: + Nghệ thuật là một lĩnh vực của đời sống, nó khác với lĩnh vực khoa học. + Văn học cũng nằm trong phạm trù nghệ thuật, các tác phẩm văn chương chính là kết tinh của nghệ thuật ngôn từ. - “Tiếng nói tình cảm con người”: Tình cảm của con người nói chung được thể hiện trong tác phẩm và tình cảm của chủ thể sáng tạo nói riêng - nhà văn, người nghệ sĩ. - “Tự giãi bày và gửi gắm tâm tư”: + Tự giãi bày: được bày tỏ, chia sẻ những gì chất chứa ở trong lòng. + Gửi gắm tâm tư: nhà văn, nhà thơ muốn kí thác vào tác phẩm những lời nhắn nhủ, những bức thông điệp, những tư tưởng, tình cảm của mình . → Nhận định đã đề cập đến đặc trưng quan trọng của sáng tạo nghệ thuật nói chung - trong đó có tác phẩm văn học - đó là tình cảm, cảm xúc và cách thể hiện cảm xúc trong văn chương (thể
  3. hiện một cách trực tiếp hoặc âm thầm kín đáo) * Bàn luận 0.25 - Văn học nghệ thuật ra đời trong những phút giây thăng hoa của tình cảm, cảm xúc của người nghệ sĩ trước con người và cuộc sống, phản ánh chiều sâu của tâm hồn, tình cảm của con người - Tiếng nói của cảm xúc trước tiên bao giờ cũng là tiếng nói của một cá nhân, nhưng từ sự tự giãi bày và gửi gắm tâm tư của cá nhân, văn học cất lên tiếng nói chung, tạo ra tiếng lòng đồng vọng, để biết bao người đọc tìm thấy mình trong từng con chữ của người nghệ sĩ. - Tiếng nói ấy được gửi gắm, ẩn giấu phía sau những hình thức nghệ thuật độc đáo, sáng tạo. Dùng ngữ liệu trong tác phẩm “Không có gì tự đến đâu con” (Nguyễn Đăng Tấn) để chứng minh làm sáng tỏ vấn đề. Thí sinh có thể diễn đạt và lập luận theo nhiều cách khác nhau, tuy nhiên cần làm rõ được các ý sau: *Khái quát tác phẩm 0,25 * Bài thơ “Không có gì tự đến đâu con” là tiếng nói của tình 0,75 cảm thương yêu mà người cha dành cho con. + Tình yêu thương của cha dành cho con thể hiện qua những lời cha nói với con về quy luật của tự nhiên và quy luật khách quan của cuộc sống, để con hiểu rằng mọi thành quả không tự nhiên mà có, các sự vật trong tự nhiên phải trải qua thử thách khắc nghiệt cũng như con người để có được thành công thì chúng ta phải đánh đổi bằng sức lao động và nỗ lực của bản thân + Tình yêu thương của cha dành cho con thể hiện qua những lời cha nói với con về tình cảm gia đình; khích lệ, động viên con tự lập, tự chủ đối diện với khó khăn trong cuộc sống => Qua bài thơ người đọc cảm nhận được tình yêu thương con sâu nặng của người cha, sự trân trọng, tin yêu của nhà thơ vào tình cảm gia đình - một tình cảm thiêng liêng, cao đẹp. - Bài thơ còn là lời “tự giãi bày” - thể hiện một cách trực tiếp, 0,75 chân thành những yêu thương, trăn trở của người cha trong bước đường trưởng thành của người con.
  4. + “Thương yêu con đâu đồng nghĩa với nuông chiều” => Cha mẹ tin rằng con sẽ hiểu được tấm lòng và tình yêu thương của cha mẹ. Cha yêu thương con, là chỗ dựa vững chắc cho con nhưng không nuông chiều. + “Chỉ có con mới nâng nổi chính mình” => Cha động viên con tự lập, tự chủ đối diện với khó khăn trong cuộc sống bởi không ai có thể sống thay con, chỉ có con mới quyết định được tương lai cuộc đời của mình + “Chẳng có gì tự đến - Hãy đinh ninh” => Lời trao gửi thiêng liêng của cha với con sâu sắc, thấm thía. => Từ đó người cha muốn gửi đến con những quan niệm về lẽ sống đúng đắn: / Không có thành công nào tự đến. / Sự tự lập, ý chí, nghị lực sẽ giúp con vượt qua mọi thử thách để đạt đến thành công. / Tình yêu thương không đồng nghĩa với sự nuông chiều. / Mong muốn con sẽ nỗ lực hết mình trong cuộc sống. ... Những bài học và lời nhắn nhủ của cha, của người đi trước thật đáng quý, đáng tin cậy, đáng trân trọng. - Bài thơ là lời “gửi gắm tâm tư” thông qua hình thức nghệ thuật đặc sắc. 0,5 + Mượn lời trò chuyện của cha với con để cha gửi đến con những bài học làm người sâu sắc, thấm thía. + Sử dụng thể thơ tự do phù hợp với việc diễn tả những lời thủ thỉ, tâm tình và dặn dò thiết tha, sâu lắng của người cha dành cho con. + Hình ảnh bình dị, gần gũi nhưng giàu ý nghĩa biểu tượng, mang tính khái quát cao, phù hợp những suy tư, cách nhìn có chiều sâu về cuộc sống của người cha. + Ngôn ngữ trong sáng, biểu cảm, giọng điệu tha thiết, sâu lắng nhưng trang nghiêm, tự hào ... + Các phép tu từ ẩn dụ, so sánh, nhân hóa, điệp ngữ... được sử
  5. dụng khéo léo, phát huy hiệu quả trong diễn đạt. Đánh giá, nhận xét: 0.5 - Ý kiến của Giáo sư Lê Ngọc Trà về nghệ thuật nói chung, văn chương nói riêng hoàn toàn đúng đắn và sâu sắc. - Rút ra bài học cho quá trình sáng tạo và tiếp nhận văn học: + Ý kiến đặt ra vấn đề về nội dung của tác phẩm văn học và cách thể hiện cảm xúc trong văn học. Người nghệ sĩ cần nhận thức được sứ mệnh của mình là phản ánh chiều sâu trong cuộc sống tình cảm con người qua nghệ thuật ngôn từ. - Qua các tác phẩm văn học, người đọc khám phá và lĩnh hội được những tư tưởng, tình cảm được gửi gắm và thấy được cách thể hiện cảm xúc một cách đầy tính nghệ thuật. Do vậy người đọc cần có khả năng thưởng thức và đánh giá giá trị tác phẩm, đặc biệt là biết khám phá, trân trọng, nâng niu những tình cảm đẹp của con người trong từng tác phẩm nghệ thuật. - Ý kiến là bài học cho người sáng tác thơ, đồng thời có tác dụng định hướng cho người đọc trong quá trình tiếp nhận. + Bài học cho người nghệ sĩ: trong quá trình sáng tạo, nhà văn phải lao động miệt mài bằng cả trí óc và con tim, bằng cả tâm lực lẫn trí lực . + Đối với bạn đọc: khi đọc tác phẩm không nên thờ ơ, hững hờ, hãy đọc bằng cả trái tim và trí tuệ để lĩnh hội được những điều mà người nghệ sĩ gửi gắm, để từ đó hoàn thiện nhân cách, số ng tốt hơn, đẹp hơn. Kết bài: 0,25 - Khẳng định lại giá trị tác phẩm: - Liên hệ . L ưu ý: Học sinh có thể trình bày suy nghĩ , quan điêm riêng nhưng phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật e. Sáng tạo: có cách diễn đạt mới mẻ, thể hiện suy nghĩ sâu sắc về 0,25 VĐNL, biết vận dụng lí luận văn học trong quá trình phân tích , nhận xét, biết liên hệ với tác phẩm khác để làm nổi bật vấn đề nghị luận