Tài liệu ôn tập kiểm tra lại Môn Ngữ văn 10 - Năm học 2023-2024 - Trường THPT Trần Đại Nghĩa
Bạn đang xem tài liệu "Tài liệu ôn tập kiểm tra lại Môn Ngữ văn 10 - Năm học 2023-2024 - Trường THPT Trần Đại Nghĩa", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
tai_lieu_on_tap_kiem_tra_lai_mon_ngu_van_10_nam_hoc_2022_202.pdf
Nội dung text: Tài liệu ôn tập kiểm tra lại Môn Ngữ văn 10 - Năm học 2023-2024 - Trường THPT Trần Đại Nghĩa
- TRƯỜNG THPT TRẦN ĐẠI NGHĨA CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỔ VĂN Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Cái Răng, ngày 23 tháng 5 năm 2024 NỘI DUNG ÔN TẬP Kiểm tra lại năm học 2023-2024 Môn Ngữ văn 10 I. NỘI DUNG ÔN TẬP 1. ĐỌC a) Bài 8: Truyện Nhận biết: - Nhận biết ngôi kể, lời người kể chuyện và lời nhân vật. - Nhận biết đề tài, không gian, thời gian, chi tiết tiêu biểu trong truyện. - Nhận biết được những đặc điểm của nhân vật, cốt truyện, câu chuyện trong tác phẩm truyện. - Nhận biết được bối cảnh lịch sử - văn hóa được thể hiện trong văn bản truyện. Thông hiểu: - Tóm tắt được cốt truyện và lí giải được ý nghĩa, tác dụng của cốt truyện. - Phân tích được các chi tiết tiêu biểu, đề tài, câu chuyện và lí giải được mối quan hệ giữa các yếu tố này trong tính chỉnh thể của tác phẩm. - Lí giải được ý nghĩa, tác dụng của việc lựa chọn lời kể, ngôi kể, điểm nhìn trong tác phẩm. - Phân tích, đánh giá được đặc điểm của nhân vật và vai trò của nhân vật trong tác phẩm. - Xác định được chủ đề, tư tưởng của tác phẩm; chỉ ra được những căn cứ để xác định chủ đề, tư tưởng của tác phẩm. - Phát hiện và lí giải các giá trị đạo đức, văn hóa từ văn bản. - Giải thích được ý nghĩa, tác dụng của các biện pháp nghệ thuật xây dựng nhân vật. Vận dụng: - Rút ra được bài học về cách nghĩ, cách ứng xử do văn bản gợi ra. - Nêu được ý nghĩa hay tác động của tác phẩm đối với tình cảm, quan niệm, cách nghĩ của bản thân trước một vấn đề đặt ra trong đời sống hoặc văn học. b) Bài 9: Văn bản nghị luận Nhận biết: - Nhận biết được luận đề chính trong văn bản. - Nhận biết được luận điểm, lí lẽ và bằng chứng tiêu biểu trong văn bản. - Nhận biết được cách sắp xếp, trình bày luận điểm, lí lẽ và bằng chứng của tác giả. - Nhận biết được các yếu tố biểu cảm trong văn nghị luận. Thông hiểu: - Xác định được được nội dung bao quát, tư tưởng chủ đạo của văn bản. - Xác định và lí giải được mục đích, quan điểm của người viết. - Lí giải được mối liên hệ giữa luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng; vai trò của luận điểm, lí lẽ và bằng chứng trong việc thể hiện nội dung văn bản. - Phân tích được vai trò của các yếu tố biểu cảm trong văn bản nghị luận.
- 2 Vận dụng: - Rút ra được bài học cho bản thân từ nội dung văn bản. - Thể hiện được thái độ đồng tình/ không đồng tình/ đồng tình một phần với quan điểm của tác giả. c) Thực hành tiếng Việt - Biện pháp tu từ chêm xen và liệt kê (bài 8); - Lỗi về mạch lạc liên kết trong văn bản dấu hiệu nhận biết và cách chỉnh sửa (bài 9). 2. VIẾT 2.1. Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá nội dung và nghệ thuật của một tác phẩm tự sự Giới thiệu tác phẩm tự sự hoặc tác phẩm kịch (tên tác phẩm, thể loại, tác giả, ). Mở bài Nêu nội dung khái quát cần phân tích, đánh giá. Xác định chủ đề của tác phẩm tự sự hoặc tác phẩm kịch. Phân tích, đánh giá chủ đề của tác phẩm tự sự hoặc tác phẩm kịch. Thân bài Phân tích một số nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật của tác phẩm tự sự hoặc tác phẩm kịch. Đánh giá tác dụng của những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật trong việc thể hiện chủ đề của tác phẩm tự sự hoặc tác phẩm kịch. Thể hiện được những suy nghĩ, cảm nhận của người viết về tác phẩm. Có lí lẽ xác đáng, bằng chứng tin cậy lấy từ tác phẩm. Khẳng định lại một cách khái quát những nét đặc sắc về nghệ thuật và nét độc Kết bài đáo về chủ đề của tác phẩm. Nêu tác động của tác phẩm đối với bản thân hoặc cảm nghĩ sau khi đọc, thưởng thức tác phẩm. Sắp xếp luận điểm (lí lẽ và bằng chứng) hợp lí. Kĩ năng Lập luận chặt chẽ, trình bày mạch lạc. trình bày, Diễn đạt rõ ràng, gãy gọn, đáp ứng đúng yêu cầu của kiểu bài. diễn đạt Sử dụng được các từ ngữ, câu văn tạo sự gắn kết giữa các luận điểm, giữa bằng chứng với lí lẽ. 2.2. Viết bài luận giới thiệu về bản thân Mở bài Giới thiệu khái quát đặc điểm của bản thân sẽ triển khai trong bài viết. Thân bài Nêu được mục đích của bài viết. Phân tích được các đặc điểm tiêu biểu của bản thân. Đưa ra được những bằng chứng thuyết phục để làm rõ từng đặc điểm của bản thân. Đưa ra các thông tin xác thực, đáng tin cây. Kết bài Khẳng định lại đặc điểm tiêu biểu, nổi bật của bản thân. Nêu thông điệp có ý nghĩa. Kĩ năng Giọng điệu chân thành, phù hợp với mục đích và đối tượng của bài viết. trình bày, Ngôn ngữ chuẩn mực, không mắc lỗi chính tả, lỗi diễn đạt. diễn đạt II. MỘT SỐ LƯU Ý ĐỐI VỚI HỌC SINH KHI LÀM BÀI KIỂM TRA 1. Trình bày văn bản - Lề trái phải thẳng. - Tất cả các trường hợp xuống dòng đều phải thụt đầu dòng. - Phải viết hoa chữ cái đầu câu. - Dẫn chứng trực tiếp, tên tác phẩm, đoạn trích phải để trong ngoặc kép.
- 3 - Viết tắt, viết số, viết hoa phải theo đúng quy tắc và chuẩn mực của tiếng Việt. - Viết chữ và trình bày văn bản phải cẩn thận, khoa học. - Không dùng hai màu mực trong một bài kiểm tra, không dùng bút xoá. 2. Thực hiện phần Đọc - Trả lời mỗi câu phải có lời dẫn (không lặp lại từ lệnh, từ hỏi). - Nếu phần trả lời chỉ có 01 ý thì không gạch đầu hàng. - Nêu dấu hiệu nhận biết hoặc chỉ ra chi tiết tiêu biểu: ghi lại ngắn gọn câu văn nào tiêu biểu cho nội dung chính vừa tìm được, không ghi nguyên một đoạn văn; không ghi tắt rồi chấm chấm. - Trả lời câu hỏi: Anh/ chị có đồng tình với ý kiến sau của tác giả “ ”: Ghi đồng tình hoặc không đồng tình với ý kiến “ .”. - Nhận xét thái độ, tình cảm của tác giả: tác giả thể hiện tình cảm gì: yêu, nhớ, thương, trân trọng, ca ngợi đối với điều gì. - Tóm tắt văn bản: tóm tắt ngắn gọn nội dung chính của văn bản; không kể dài dòng. - Ngôi kể: phải xác định ngôi thứ mấy, qua từ ngữ nào; nếu là ngôi thứ ba thì ngôi thứ ba hạn tri hay toàn tri. - Điểm nhìn: chỉ ra điểm nhìn của ai. 3. Thực hiện phần Viết - Cần xác định đúng luận đề. - Bố cục bài văn phải hoàn chỉnh, rõ ràng. - Phần thân bài cần triển khai luận đề thành các luận điểm cụ thể. - Mỗi luận điểm cần được làm rõ bằng cách kết hợp lí lẽ với bằng chứng. - KHÔNG: gạch đầu dòng, viết tắt, viết số không đúng quy tắc tiếng Việt, đánh mũi tên, bôi xoá nhiều, dùng bút xoá. III. MỘT SỐ ĐỀ THAM KHẢO ĐỀ 1 I. ĐỌC (6,0 điểm) Đọc đoạn trích sau và thực hiện yêu cầu ở phía dưới: Năm nay tôi mười tuổi. Có nghĩa là trước đây mười năm tôi vẫn còn nằm trong bụng mẹ. Mỗi khi đi đâu, mẹ mang tôi đi. Tôi chưa biết khóc. Một đứa trẻ khi nằm trong bụng mẹ chắc chắn là không biết khóc. Tôi muốn các bạn tưởng tượng điều này. Lúc đó chúng ta như thế nào nhỉ? Chúng ta không có ai làm bạn, ngoài mẹ ra. Cho nên bố tôi nói, một đứa trẻ ra đời là một sự may mắn; ngày tôi ra đời là ngày tôi may mắn có thêm bạn mới... Chẳng hạn, làm sao tôi có thể quen thằng Tí và chọn nó làm bạn thân nếu tôi không ra đời? Cũng theo lời bố tôi nói, một đứa trẻ khi ra đời, bà mụ sẽ đập đập vào mông gọi nó dậy. Khi còn nằm trong bụng mẹ, nó ngủ. Có nhiều đứa phải đánh đến bốn năm cái, thật buồn cười vì nó cứ tưởng vẫn còn đang nằm trong bụng mẹ. Tôi là một trường hợp như vậy. Tôi ngủ rất say. Bà mụ phải đánh đến bảy lần. Mẹ tôi nói những đứa như vậy rất lì và hình như tôi cũng thấy đung đúng. Ở lớp, tôi nói xạo tụi bạn, bà mụ đánh tôi đến năm mươi chín lần! - Trời ơi, cái mông mày phải sưng to lắm. - Chúng trợn mắt tròn lên. Hôm sau chúng khoe với tôi, mẹ chúng nói, bà mụ đánh chúng đến một trăm cái. Có đứa còn nói hai trăm. Thật không tưởng tượng nổi cái mông. Con Hồng mít ướt đụng một chút là
- 4 khóc nhè còn dám nói đến bốn trăm cái. Chúng tôi cười ồ lên. Thằng Toàn thành thật nói: "Tao có hai cái à". (Hồi nãy nó nói hai trăm). Ðứa khác thì ba cái, bốn cái, còn con Hồng mới đẻ ra đã khóc rồi. Hai con mắt nó mở to lên, thế là nó khóc. Bà mụ rảnh tay, không phải nhọc công. Bạn có khi nào hỏi mẹ mình chuyện này chưa? Tôi nghĩ sẽ rất thú vị. Bạn sẽ biết về mình lúc mới chào đời. Bạn có biết mở mắt nhìn bố mẹ không? Bạn bao nhiêu kí? Khi ngủ, bạn khóc mấy lần trong một đêm? Bạn có tóc không, tóc màu gì? Cả trăm chuyện để biết về mình. Nhưng tôi muốn nói với bạn một điều, chúng ta phải bí mật. Chuyện đó phải riêng tư. Khi bạn giữ một điều bí mật về mình hay về ai đó, bạn sẽ không bao giờ quên. Những chuyện bạn nói ra rồi, bạn sẽ quên mất. Tôi dám chắc như vậy. Và còn một điều nữa, bạn phải tăng số lần bà mụ đánh lên, bởi vì như bố tôi nói, chúng ta không bao giờ có cơ hội được bà mụ đánh lần thứ hai. Chúng ta chỉ được khóc một lần khi chào đời, một cái khóc dễ thương nhất. Bố tôi vẫn nhớ mãi cái ngày tôi khóc. Tức cái ngày tôi chào đời. Mẹ tôi nói: "Anh ơi! Hình như em sắp sinh em bé". Bố tôi hoảng hốt ẵm mẹ đặt lên xe rơm. Ngặt một nỗi, con bò không có ở đó. Bố đã nhờ cậu tôi dắt nó đi ăn cỏ. Thế là một mình, bố kéo xe xuống thị xã. Dọc đường, mẹ cắn rơm chịu đau không la một tiếng. Bố tôi nói: "Em cứ la lên, không sao cả!". Mẹ vẫn không la. Bố nói mẹ là người cừ nhất! Khi kể cho tụi bạn nghe chuyện này, chúng cũng bảo mẹ chúng không la. Các bạn đừng cho là chúng nói xạo nhé. Mà phải cho đó là một điều bí mật. Những điều bí mật sẽ cho chúng ta nhớ mãi, không quên. [...] Ngày tôi ra đời, bà mụ hỏi bố: - Ðặt tên cậu ấm là gì nào? Cậu ấm có nghĩa là một cậu bé sung sướng. Bà muốn tôi được sung sướng. Bố tôi choàng dậy: - Ừ nhỉ, sao tôi quên khuấy mất. Tôi cứ tưởng tượng về nó mãi, đâm quên. Theo bố tôi, cái tên quan trọng lắm. Bởi nó là cái tiếng đẹp đẽ nhất mà người ta sẽ gọi trong suốt cuộc đời một đứa trẻ. Ðứa trẻ này khác với đứa trẻ kia trước tiên là một cái tên. Khi nhớ một cái tên tức là ta nhớ về một con người có cái tên đó. Không gì tuyệt diệu hơn khi mình gọi tên người thân của mình. Mẹ là cái tên chung cho tất cả những ai làm mẹ. Khi ai đó gọi mẹ ơi, tức mình hiểu người phụ nữ đó đã làm và yêu thương những công việc giống mẹ mình. Mẹ cũng là một cái tên đẹp nhất, bao giờ cũng dịu dàng. Một người tên Dũng, mình sẽ nghĩ không phải là con gái. Người tên Loan, sẽ không phải là con trai. Khi mình lớn, cái tên vẫn đi theo. Mình sẽ giữ nó như một kỉ niệm về người bố và người mẹ. Ðó cũng là tình cảm ưu ái mà bố mẹ muốn dành cho. Bố tôi nói với bà mụ: - Tôi muốn nó có một cái tên thật hùng dũng. - Vậy tên Dũng nhé! - Tôi muốn nó phải thông minh nữa. - Vậy thì Trí Dũng. - Tôi còn muốn nó phải có hiếu nữa kia. Và cuối cùng cái tên của tôi cũng được đặt xong. Một cái tên thật dài nhưng tôi luôn nhớ.
- 5 Bố tôi nói: - Không có gì đẹp bằng cái tên của mình. Một cái tên là một tình thương lớn. Bạn tên gì vậy? Có khi nào bạn hỏi bố mẹ tại sao bạn lại có cái tên đó không? Tôi tin rằng bạn sẽ được nghe một câu chuyện thật dài về nó. Ðó là một bí mật về bạn. Một bí mật mà chỉ bố và mẹ bạn biết. Và chỉ khi đó bạn mới biết tại sao một cái tên lại là một tiếng nói đẹp đẽ nhất. [...] (Trích Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ – Nguyễn Ngọc Thuần, NXB Tuổi trẻ, 2004) Chú thích: Nguyễn Ngọc Thuần sinh năm 1972, quê ở xã Tân Thiện huyện Hàm Tân tỉnh Bình Thuận, là nhà văn trẻ ở thể loại văn xuôi đương đại. Ông tốt nghiệp Đại học Mĩ thuật Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi ra trường, ông đầu quân cho báo Tuổi trẻ. Thế nhưng cơ duyên đã đưa người họa sĩ trẻ tiếp cận văn chương và "cái tôi" nhà văn đã lấn lướt "cái tôi" họa sĩ. Các tác phẩm của ông mang đến một thế giới trong trẻo, tươi mới, ấm áp, đầy chất thơ. Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ là tên một truyện dành cho thiếu nhi của nhà văn, họa sĩ Nguyễn Ngọc Thuần. Truyện gồm những thiên truyện nhỏ của cậu bé 10 tuổi tên là Dũng về cuộc sống quanh cậu, từ những thứ nhỏ nhặt như cái răng khểnh, ngón tay cho đến chuyện một người quen có con vì sinh non nên đã qua đời. Cuốn truyện gồm các câu chuyện giản dị về làng quê dưới con mắt trẻ con. Câu 1. Xác định thể loại văn học của đoạn trích. Câu 2. Đoạn trích được kể theo ngôi kể nào? Câu chuyện trong đoạn trích được kể qua điểm nhìn của nhân vật nào?. Câu 3. Trong đoạn trích, lời đối thoại giữa nhóm bạn trong lớp (“tôi”, Hồng, Toàn, ) có tác dụng gì? Câu 4. Cuộc đối thoại giữa “bố tôi” với bà mụ thể hiện tình cảm gì của người bố đối với đứa con mình? Câu 5. Theo anh/chị, nhân vật “tôi” có tính cách như thế nào? Chỉ ra một số căn cứ để xác định tính cách đó. Câu 6. Xác định chủ đề của đoạn trích và cho biết dựa vào đâu để em xác định chủ đề đó. Câu 7. Bạn tên gì vậy? Có khi nào bạn hỏi bố mẹ tại sao bạn lại có cái tên đó không? Tôi tin rằng bạn sẽ được nghe một câu chuyện thật dài về nó. Ðó là một bí mật về bạn. Một bí mật mà chỉ bố và mẹ bạn biết. Và chỉ khi đó bạn mới biết tại sao một cái tên lại là một tiếng nói đẹp đẽ nhất. Đoạn văn trên thể hiện tư tưởng gì của tác giả? Câu 8. Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ trong cụm câu sau: “Thằng Toàn thành thật nói: “Tao có hai cái à”. (Hồi nãy nó nói hai trăm)”. II. VIẾT (4,0 điểm) Em hãy viết bài văn phân tích, đánh giá nội dung và nghệ thuật của đoạn trích ở phần Đọc.
- 6 ĐỀ 2 I. ĐỌC (6,0 điểm) Đọc văn bản sau: TÔI THÍCH LÀM VUA Nguyễn Quang Sáng Tôi sinh ra trên một cù lao giữa sông Tiền. Nói là cù lao nổi lên giữa con sông nhưng cũng lớn lắm – cù lao có đến ba làng: Mỹ Tân, Mỹ Phú, Mỹ Hòa. Ba làng có ba cái chợ, chẳng thua ai. Mỗi làng có một cái trường dù một cây mái cũng là trường. Cù lao của tôi thua nơi khác là không có xe hơi, nhưng có xe ngựa, xuồng ghe thì không đâu bằng. Tàu không có, nhưng ngày nào lũ nhỏ cũng lao xuống thấy tàu chạy lên chạy xuống. Cái thú vui của lũ nhỏ chúng tôi là nhìn sóng và lúc tắm thì được nhoi sóng mỗi khi có một con tàu chạy qua bến. Cái mà dân cù lao tôi thấy thiếu nhất là không được xem hát. Ai muốn xem hát phải xuống xuồng băng qua sông, nghe đâu hồi tôi chưa đẻ, có người mê hát đến nỗi chị chìm xuồng chết trôi. Có lẽ cù lao tôi không có gánh hát mà người ta chê nó bằng hai câu ca dao: Mỹ Tân, Mỹ Phú, Mỹ Hò Ba làng nhập lại không ra cái làng nào Cả năm mới có một gánh hát về một lần vào dịp cúng đình. Gánh đó về là do công của chú tôi. Nghe ba tôi kể, chú tôi sanh non ngày non tháng, lớn lên bị èo uột, bịnh hoạn luôn. Thấy vậy ông bà mới cho chú học chữ nho để hốt thuốc. Trước là trị cho mình, sau đó là làm phước cho bà con. Lớn lên, bỏ nhà đi hoang. Nhờ biết chữ nho, đọc được sách Tàu, biết nhiều tuồng tích, rồi trở thành thầy tuồng. Hồi đó, tôi không được nghe tiếng soạn giả và đạo diễn, chỉ nghe có tiếng thầy tuồng, chú tôi vừa viết vừa tập cho đào kép và dàn dựng, làm luôn nghề đạo diễn. Gánh đó về là vì nể vì thương cho chú tôi, chớ ai về chi cái đất cù lao, lúc nào cũng sóng gió. Khi gánh hát về, nước của bốn bề cù lao như cũng nổi sóng vui theo. Già trẻ bé lớn ai cũng nôn nao với tiếng trống rao hàng của chiếc xe ngựa chạy qua đường. Xe ngựa chạy trước, lũ nhỏ chúng tôi cắm đầu cắm cổ đuổi theo như sợ mất tiếng trống. Cái vui kế đó là, trước khi xem hát, chúng tôi rủ nhau đi xem quảng cáo, đi xem quần áo, mũ mão họ phơi trên mui ghe như là cố ý xem trước vậy! Rạp hát là nhà lồng chợ. Kệ thịt, kệ vải đều được dọn ra ngoài. Người ta lấy lá che kín hết bốn bên. Tôi là cháu của thầy tuồng, tôi được đánh trống. Chừng sắp sửa kéo màn thì tôi với lũ nhỏ hàng xóm lăn trống vào rạp, khỏi phải mất tiền mua vé. Cái vui cuối cùng là, sau khi gánh hát nhổ neo đi, lũ nhỏ tụi tôi lại lấy lá dừa kết thành mão, lấy xơ dừa làm râu, lấy giấy màu dán vào quần áo, phân vai cho nhau, hát lại cái tuồng mình được xem, cũng: - Như ta đây là - Quân bay! - Bẩm hoàng thượng! - Này ái khanh Vân vân Cứ vậy mà diễn cho đến ngày cúng đình năm sau.
- 7 Năm đó, gánh nhổ neo đi rồi nhưng chú tôi còn nán lại vài ngày chơi với bà con. Tôi bèn nhờ chú tôi dạy hát. - Được! Tụi con có mấy đứa? - Dạ chú muốn mấy đứa cũng có. – Tôi lẹ miệng đáp lại. - Chú sẽ soạn tuồng cho con lại để mấy cháu hát. Tụi nhỏ đứng xung quanh chú cũng nhảy cửng lên. Chú nhìn một lượt qua mặt chúng tôi: - Tuồng này có một ông vua; hai ông quan – một nịnh, một trung; một anh hề; một ái khanh; một thằng quân. Tụi con ở đây có sáu đứa, tuồng cũng có sáu vai, vậy là vừa đủ. Bây giờ mỗi đứa đóng thử một vai, vai nào đóng hay thì sẽ đóng luôn nghe chưa? Chú dạy chúng tôi thay nhau đóng vai nịnh, vai trung, vai hề, vai quân, còn ái khanh là một bé bên nhà vai ái khanh nhất định là của nó. Tôi chờ hoài mà không thấy chú tập vai vua. Tôi thắc mắc mà không dám hỏi. Trong lũ nhỏ chúng tôi có thằng Đực là thằng khờ nhứt. Thằng Đực là con của dì tôi. Dì tôi sanh năm một, sanh liền ba đứa chẳng nuôi được đứa nào. Sanh đến đứa thứ tư, sợ nó theo anh chị nên lựa cái tên xấu xí mà đặt cho nó. Nó là con trai nên đặt tên nó là Đực. Cái tên cũng như con người của nó, lúc nào cũng ngồi đực ra nhìn tụi tôi chơi đùa. Nó chơi cái gì cũng dở, nên ít được cho chơi. Nó khờ quá, biết thân, nó ngồi đực ra nhìn để được vui theo. Nó không biết hát cũng không biết múa, không biết buồn cũng không biết vui, chẳng biết rồi chú tôi sẽ cho nó đóng vai nào. Sau buổi tập, tối đến, khi còn có hai chú cháu, chú tôi hỏi tôi: - Hồi chiều tập qua mấy vai, con thích vai nào? Nghĩ mình là con cháu, chú sẽ cưng hơn mấy đứa khác, tôi mạnh dạn: - Con thích làm vua. - Làm vua? – Chú tôi như giật mình, mở tròn mắt nhìn tôi như muốn xem lại tôi là đứa nào vậy. Nghĩ sao chú lại cười, nụ cười như trùm lên mặt mũi tôi, rồi chú lắc đầu: - Không được, vai vua hãy để cho thằng Đực. Đến lúc tôi lại ngạc nhiên, nhìn lại chú như nhìn một người xa lạ, và phản ứng không một chút đắn đo: - Thằng Đực là thằng ngu! Nó làm vua sao được. Chú đưa tay vỗ nhẹ lên đầu tôi: - Chính vì vậy nó mới làm vua. Chú hỏi con, sao con thích làm vua? Tôi muốn làm vua vì: trước nhất mặc áo con rồng, được ngồi trên cao, ghế ngồi gọi là ngai vàng, trong tay có một cục gì đó (chắc là nặng lắm) mỗi lần đập xuống bàn thì rung rinh cả thiên hạ, nhứt hô bá ứng, muốn xử ai thì xử, muốn gì được nấy, muốn có ái khanh thì có ái khanh, muốn có rượu thì có quan hầu Tôi nghĩ nhiều nhưng chỉ nói: - Tại con thích! - Để chú giảng cho con nghe nhé. Chú nói, nếu đóng vai nịnh thì phải biết luồn lọt, phải biết lời ong tiếng ve để làm xiêu lòng bề trên, để đổi trắng thay đen, để được vinh thân, phì gia. Làm được vậy đâu có dễ, thằng Đực không sao làm được. Nếu đóng vai trung thì phải trung thực, dám nói thẳng với vua lời hay lẽ phải, cuộc đời phải chịu nỗi oan làm cho người ta thương, người ta khóc, thằng Đực không
- 8 làm nổi. Làm cho người ta khóc đã khó, làm cho người ta cười lại càng khó hơn. Làm cho người ta cười để người ta quên đi cái cuộc đời cơ cực, đó là giây phút cũng có ích cho đời, thằng Đực nó ngồi đực ra đó ai cười nổi. Còn vai quân, cái vai coi là hạng chót cũng không phải dễ. Làm quân cũng không phải dễ. Làm quân phải biết quỳ, biết bẩm, biết ca, thằng Đực làm được gì? Còn làm vua, chỉ có việc ngồi sẵn đó, màn kéo ra thì thấy mặt nó rồi, chỉ có việc vuốt râu, cầm cái ấn gõ xuống bàn, rồi “quân bây” với “ái khanh”. Vậy là vừa với cái sức của thằng Đực, phải không? Nghe chú tôi giảng giải, tôi không còn cãi vào đâu. Vai vua không thể ai khác được ngoài thằng Đực, đúng lắm, nhưng vẫn thấy thằng Đực có số hên. Sau này đi bộ đội, tôi là một “cây văn nghệ” của anh em. Tôi hay sắm tuồng, diễn kịch ở những nơi đóng quân. Nhờ đó khi chuyển ngành tôi được cấp trên cho đi học nghề đạo diễn. Vào nghề đạo diễn tôi lại nhớ lời của chú tôi, tôi coi đó như bài học vỡ lòng trong cuộc đời làm sân khấu – và càng ngày tôi càng thấm thía hơn ai là người thực cho cuộc đời, ai là người cho sân khấu. Tiếc thay, bây giờ quanh tôi vẫn còn những người thích làm vua. (Trích trong tập truyện ngắn Dân chơi, Tôi thích làm vua, NXB Hội Nhà văn, 2005) Thực hiện các yêu cầu: Câu 1. Theo văn bản, vì sao nhân vật Tôi trong truyện lại thích đóng vai vua? Câu 2. Tóm tắt các sự kiện chính được kể trong văn bản. Câu 3. Những dấu hiệu nào giúp anh/chị nhận biết Tôi thích làm vua là văn bản truyện? Câu 4. Nêu chủ đề của truyện. Câu 5. Truyện được kể qua điểm nhìn của ai? Việc sử dụng điểm nhìn đó có tác dụng gì? Câu 6. Anh/chị hãy nêu cảm nhận của mình về nhân vật người chú trong văn bản? Câu 7. Qua văn bản Tôi thích làm vua, anh/chị rút ra được thông điệp gì cho bản thân? Câu 8. Chỉ ra lỗi và nêu cách sửa trong những câu sau: a. Thời cơ đã chín mùi nhưng họ lại không biết nắm bắt. b. Do trình độ còn thiếu sót nên họ không quản lí được công ty. II. VIẾT Qua văn bản Tôi thích làm vua của nhà văn Nguyễn Quang Sáng ở phần Đọc, anh/chị hãy viết một bài văn phân tích, đánh giá chủ đề và nét đặc sắc nghệ thuật của câu chuyện này.
- 9 ĐỀ 3 I. ĐỌC (6,0 điểm) Đọc văn bản sau: BẢN SẮC LÀ HÀNH TRANG Nguyễn Sĩ Dũng Hội nhập là việc sông kết vào với biển, chứ không phải việc sông tan biến vào trong biển. Chúng ta gắn kết với thế giới, chứ không phải chúng ta tan biến vào thế giới. Tuy nhiên, vấn đề là làm thế nào để hơn 80 triệu người không bị hoà lẫn và biến mất trong hơn 6 000 triệu người? Làm thế nào để chúng ta vẫn được nhận biết trong một thế giới dẹt(1), trong một làng toàn cầu? Câu trả lời cho thời kì hội nhập là bản sắc của cộng đồng chúng ta làm nên sự tồn tại của cộng đồng chúng ta. Nếu bản sắc của chúng ta bất diệt, thì chúng ta cũng ngàn đời bất diệt. Bản sắc là tất cả những gì đặc trưng cho dân tộc Việt Nam, tất cả những gì làm cho người Việt chúng ta khác với mọi tộc người khác trên thế giới. Đó trước hết là tiếng Việt, thứ ngôn ngữ do cha ông để lại và được chia sẻ bởi các cộng đồng dân tộc Việt Nam. Đó là những thành tựu văn hoá của chúng ta. Là trống đồng, là tượng chùa Tây Phương, là kho tàng dân ca, kho tàng văn học nghệ thuật mà tiêu biểu là Truyện Kiều, là hệ thống giá trị của chúng ta, trong đó có tình yêu quê hương xứ sở, có đời sống tâm linh phong phú với việc thờ cúng tổ tiên theo cách của riêng mình. Ngày nay, người ta thường nói nhiều đến sự xung đột giữa chiếc xe Lếch-xớt (Lexus)(2) với cây ô liu(3), Chiếc xe Lếch-xót đại diện cho sự hiện đại và sự toàn cầu hoá. Cây ô liu đại diện cho bản sắc và cho truyền thống. Có vẻ như toàn cầu hoá đang áp đặt vô số những chuẩn mực chung cho mọi tộc người. Các chuẩn mực về kĩ thuật, về công nghệ thông tin và truyền thông, về thương mại, về đầu tư,... tất cả là chung và tất cả những cái chung đang ngày một nhiều thêm lên. Cái chung nhiều thêm lên, thì cái riêng sẽ bị giảm bớt đi. Đó là một nguy cơ hoàn toàn có thật. Tuy nhiên, chiếc xe Lếch-xớt và cây ô liu không nhất thiết bao giờ cũng phải xung đột và triệt tiêu lẫn nhau. Ngược lại, chiếc xe Lếch-xót vẫn có thể tạo điều kiện cho việc bảo tồn cây ô liu và cây ô liu vẫn có thể trang điểm cho chiếc xe Lếch-xớt. Việc hội nhập và việc giữ gìn bản sắc cũng vậy. Không có hội nhập, nghề múa rối nước, nghề thổ cẩm của chúng ta chắc sẽ rất khó phát triển. Ngược lại, các nhà hàng, khách sạn cao cấp chắc cũng sẽ có ít sức hấp dẫn đối với khách du lịch nước ngoài, nếu thiếu sự hiện diện của hồn văn hoá Việt. Bản sắc thậm chí là một lợi thế cạnh tranh. Bởi vì bản sắc tạo nên sự độc đáo, sự hấp dẫn. Ví dụ, phố cổ Hà Nội mang bản sắc văn hoá của người Việt và là duy nhất trên thế giới nên có sức cuốn hút to lớn đối với du khách nước ngoài. Hồ Gươm cũng vậy, các gánh hàng hoa trên đường Hà Nội cũng vậy... Bản sắc văn hoá còn có thể bổ sung giá trị cho các hàng hoá và dịch vụ của chúng ta. Nhờ đó, chúng cũng trở nên đặc biệt hơn, hấp dẫn hơn đối với khách hàng cả trong nước, lẫn ngoài nước. Tóm lại, tiếp thu tinh hoa của nhân loại, nhưng giữ gìn bản sắc của dân tộc không chỉ là (4) phương châm hành động, mà còn là bản năng(5) tồn tại của chúng ta. (Những nghịch lí của thời gian, NXB Thời đại, Hà Nội, 2011)
- 10 Chú thích: Nguyễn Sĩ Dũng (sinh năm 1955) tại huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, là một tiến sĩ ngành giáo dục học, nhà khoa học, công chức, nhà hoạt động xã hội. Ông từng giữ chức vụ phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Việt Nam (2003-2016). Ông là nhà phản biện xã hội và chuyên gia trong lĩnh vực khoa học chính trị của Việt Nam hiện nay. (1) Thế giới dẹt ( giống cách nói “thế giới phẳng”): chỉ sự phát triển toàn cầu hoá, theo đó, sự truyền bá thông tin và kết nối giữa mọi người trên Trái Đất dễ dàng và nhanh chóng hơn nhờ internet. (2),(3) Xe Lếch- xớt: Loại xe hơi hạng sang của hãng Tô-y-ô-ta (Toyta), Nhật Bản. Cây Ô liu: loại cây xanh quanh năm, rất phổ biến ở các nước thuộc vùng Địa Trung Hải, hoa trắng, quả nhỏ, dùng để ăn hoặc ép lấy dầu. Chiếc xe Lếch-xớt và cây Ô liu (The Lelux and the Olive tree) là tên một tác phẩm của Thô-mát Phơ-rai-men (Thomas Friedman) viết về toàn cầu hoá. (4) Phương châm: tư tưởng chỉ đạo hành động, thường được diễn đạt bằng những câu ngắn gọn. (5) Bản năng: toàn bộ những hoạt động, những hành vi bẩm sinh tự nhiên của một sinh vật đối với môi trường xung quanh hay những kích thích từ bên trong để tự vệ, sinh sản, thường để phân biệt với ý thức. Thực hiện yêu cầu: Câu 1. Xác định thể loại văn học của văn bản. Câu 2. Em hiểu như thế nào về nhan đề Bản sắc là hành trang? Nhan đề này cho em biết vấn đề tác giả bàn luận trong văn bản là gì? Câu 3. Hãy nêu ý chính được trình bày ở ba phần của bài viết Câu 4. Phân tích những biểu hiện của bản sắc dân tộc Việt Nam được tác giả nêu lên trong văn bản Bản sắc là hành trang. Em có thể bổ sung những biểu hiện nào khác của bản sắc dân tộc? Câu 5. Phân tích mối quan hệ giữa hiện đại và truyền thống, cái riêng và cái chung của tác giả nêu lên qua ví dụ về chiếc xe Lếch-xớt và cây ô liu. Câu 6. Tác giả có thái độ như thế nào đối với vấn đề bản sắc và hội nhập toàn cầu hóa? Dẫn ra một số câu văn, đoạn văn trong văn bản thể hiện rõ thái độ ấy. Câu 7. Em hiểu như thế nào về câu kết của bài viết: “Giữ gìn bản sắc của dân tộc không chỉ là phương châm hành động, mà còn là bản năng tồn tại của chúng ta”? Vấn đề đặt ra trong văn bản trên có ý nghĩa gì với cá nhân em? Câu 8. Chỉ ra và sửa lỗi trong đoạn văn sau: “Bản sắc thậm chí là một lợi thế cạnh tranh. Bởi vì bản sắc tạo nên sự độc đáo, sự hấp dẫn. Ví dụ, phố cổ Hà Nội mang bản sắc văn hoá của người Việt và là duy nhất trên thế giới nên có sức cuốn hút to lớn đối với du khách nước ngoài. Hồ Gươm cũng vậy, các gánh hàng hoa trên đường Hà Nội cũng vậy...”. II. VIẾT (4,0 điểm) Em muốn gia nhập Câu lạc bộ Tình nguyện viên để tham gia tổ chức các hoạt động của lễ hội hoặc giới thiệu với khách tham quan về di tích lịch sử, văn hóa ở địa phương mình sinh sống. Hãy viết bài luận thuyết phục Ban Tổ chức của lễ hội hoặc Ban Quản lí di tích chấp nhận mong muốn của em. ---Hết---

