Đề thi học sinh giỏi Ngữ Văn 9 (Phần 2) - Trường THCS Trường Sơn (Có đáp án)
Bạn đang xem tài liệu "Đề thi học sinh giỏi Ngữ Văn 9 (Phần 2) - Trường THCS Trường Sơn (Có đáp án)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
de_thi_hoc_sinh_gioi_ngu_van_9_phan_2_truong_thcs_truong_son.docx
Nội dung text: Đề thi học sinh giỏi Ngữ Văn 9 (Phần 2) - Trường THCS Trường Sơn (Có đáp án)
- Đặng Thị Hương - THCS Trường Sơn - Huyện An Lão Câu hỏi: Câu 2. (5,0 điểm) Bàn về thơ, nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Hữu Quý đã từng cho rằng: “Thơ là sứ giả của tình yêu” Viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của em về ý kiến trên qua việc phân tích bài thơ “Tôi chẳng muốn kỉ niệm về tôi là một điệu hát buồn” của nhà thơ Lưu Quang Vũ. TÔI CHẲNG MUỐN KỈ NIỆM VỀ TÔI LÀ MỘT ĐIỆU HÁT BUỒN Lưu Quang Vũ Bao bài ca xáo trộn trong tôi Có tiếng khóc của con chim gẫy cánh Tiếng đau rên của ngôi nhà đổ sập Tiếng con thuyền không về được bờ quen Tiếng mưa rơi trên ngọn cỏ yếu mềm... Nhưng đêm hội này, chỉ một lần tôi được hát Chỉ sống một cuộc đời giữa vô cùng năm tháng Chỉ một lần gặp bạn, bạn yêu thương Chẳng muốn kỷ niệm về tôi là một điệu hát buồn Tôi chọn bài cả của mùa hạ nắng Tôi chọn bài ca của người gieo hạt Hôm nay là mầm, mai sẽ thành cây Khổ đau dẫu nhiều, tôi chọn niềm vui Là suối mát lòng tôi gửi bạn Một cuộc đời - một bài ca duy nhất Tôi chẳng muốn điệu hát buồn là kỷ niệm về tôi. (Trích Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi, Lưu Quang Vũ, NXB Hội Nhà văn, 2014, tr.185) Đáp án PHẦN CÂU YÊU CẦU CẦN ĐẠT ĐIỂM II 2 5,0 a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài nghị luận văn học. 0,25 b. Xác định đúng yêu vấn đề cần nghị luận: Suy nghĩ về ý 0,25 kiến: “Thơ là sứ giả của tình yêu” - Nguyễn Hữu Quý c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề của bài viết. - Xác dịnh được các ý chính của bài viết.
- - Sắp xếp được hệ thống các ý hợp lý theo bố cục 3 phần của bài văn nghị luận. *Giới thiệu vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm của 0,5 cá nhân về vấn đề. * Triển khai vấn đề nghị luận - Thể hiện quan điểm của người viết có thể theo 1 số gợi 3,0 ý sau: a.Giải thích nhận định: - “Thơ” là hình thức sáng tác văn học nghiêng về thể hiện cảm xúc thông qua cách tổ chức ngôn từ đặc biệt, giàu nhạc tính, giàu hình ảnh và gợi cảm. - “Sứ giả” là người đại diện, người kết nối, người đưa tin. => Ý kiến khẳng định đặc trưng, vai trò của thơ ca trong cuộc sống. Thơ bồi đắp tình yêu thương, kết nối tâm hồn con người, thể hiện tình cảm, cảm xúc của con người. * Lí giải: 0,5 - Thơ là tiếng lòng của người nghệ sĩ, xuất phát từ tình cảm mà thi nhân dành cho cuộc sống, cho con người. Các nhà thơ làm thơ khi tình cảm dâng trào mãnh liệt trong trái tim, họ có nhu cầu muốn được sẻ chia, tìm được sự đồng điệu từ phía người đọc. Mỗi bài thơ được tạo ra như một sứ giả tin cậy dẫn lối vào tình yêu con người, yêu cuộc sống là bởi thế. + Thơ là tiếng nói của tình cảm mãnh liệt đã được ý thức. Nhà thơ không chỉ muốn chia sẻ, bộc lộ tình cảm của cá nhân mình, mà muốn lan truyền những xúc cảm ấy tới trái tim người đọc, đem đến cho họ những xúc cảm mới. Từ đó, thơ kết nối những tâm hồn người đọc đến với nhau, cùng hướng đến những giá trị tốt đẹp. Bởi thế mà mỗi bài thơ phải đem đến tình yêu, đánh thức tình yêu trong trái tim mỗi người, đưa con người đến với nhau. 3.Phân tích, chứng minh: * Giới thiệu về tác giả và bài thơ: Bài thơ này không chỉ là một sáng tác đơn thuần về cuộc đời và kỷ niệm cá nhân mà 0,25 còn mang một thông điệp nhân văn mạnh mẽ: Dù cuộc đời có nhiều biến cố, con người cần sống lạc quan, yêu thương, và để lại những dấu ấn đẹp cho cuộc đời. Điều này phản ánh chính tâm thế sống của Lưu Quang Vũ – một người nghệ sĩ đa tài, nhạy cảm nhưng luôn mong muốn lan tỏa những giá trị tốt đẹp. Bài thơ ra đời trong những năm cuối đời của ông như một
- lời tâm tình cuối cùng, vừa tha thiết, vừa nhân ái, nhắc nhở mọi người rằng sự tồn tại của mỗi con người không chỉ được đo bằng thời gian sống mà bằng những giá trị và tình yêu họ để lại trong cuộc đời này. * Luận điểm 1: “Tôi chẳng muốn kỉ niệm về tôi là một điệu hát buồn” - Lưu Quang Vũ như một sứ giả dẫn lối 1,0 đến tình yêu cuộc sống, khát khao sống của nhà thơ. + Khát vọng về kỉ niệm đẹp, tránh xa u sầu: Nhan đề bài thơ là một lời khẳng định: "Tôi chẳng muốn kỉ niệm về tôi là một điệu hát buồn." - Từ chối u sầu: Câu thơ này là tuyên ngôn rõ ràng về lối sống mà tác giả lựa chọn – không muốn cuộc đời mình được nhớ đến chỉ bởi những nỗi buồn, mất mát. Lưu Quang Vũ không phủ nhận rằng đời người có những khoảnh khắc khó khăn, nhưng ông mong muốn vượt qua và để lại dấu ấn đẹp đẽ, tích cực trong lòng người khác. -"Điệu hát buồn" mang hàm ý những ký ức đau thương, u uất. Tuy nhiên, nhà thơ không để cho những cảm xúc đó chi phối mình. Ông khát khao sống để tạo ra những điều vui tươi, ý nghĩa. - Hs phân tích các cảm xúc, suy nghĩ tích cực của tác giả qua bài thơ: + Tác giả không phủ nhận khó khăn trong cuộc sống (5 câu đầu) + Ông thể hiện khát vọng sống tích cực giữa dòng đời biến động, sống cần niềm vui và tình yêu thương (4 câu tiếp) - Ở đây, tác giả không chọn cách sống an phận, thụ động mà muốn đối diện với cuộc đời bằng năng lượng sáng tạo và niềm yêu thương. Ông mong rằng cuộc đời của mình không chỉ là chuỗi ngày tẻ nhạt mà sẽ được lấp đầy bằng những ký ức đẹp, những việc làm có ý nghĩa cho bản thân và cho mọi người. + Lưu Quang Vũ cho thấy rằng con người cần sống lạc quan, không phải để trốn tránh nỗi buồn mà để tìm được niềm vui giữa những thử thách (4 câu tiếp) + Hai câu cuối gửi gắm triết lí nhân văn: Sống hết mình, yêu thương, lạc quan, tin tưởng và để lại những dấu ấn, những điều tốt đẹp cho cuộc đời. (2 câu cuối) * Luận điểm 2: “Tôi chẳng muốn kỉ niệm về tôi là một điệu hát buồn” - Lưu Quang Vũ như một sứ giả gửi tình 0,5
- yêu đến tâm hồn bạn đọc. + Bài thơ khơi gợi tình yêu cuộc sống trong trái tim bạn đọc. + Nhắc nhở các thế hệ chúng ta có ý thức trách nhiệm với cuộc đời mình, với xã hội. + Bài thơ truyền đi thông điệp sâu sắc rằng: Hãy sống sao cho mỗi ngày là một kỷ niệm đẹp, để sau này khi nhớ về, người khác sẽ không chỉ thấy một "điệu hát buồn" mà là những gì tích cực, tươi sáng. Lời nhắn nhủ của tác giả mang đậm chất nhân văn: Cuộc đời ngắn ngủi, hãy để lại những giá trị tốt đẹp cho thế giới này. * Luận điểm 3: Tiếng nói tình yêu của thi nhân được thể 0,5 hiện qua những hình thức nghệ thuật độc đáo: - Thể thơ tự do diễn tả tự nhiên mạch cảm xúc bài thơ. - Phương thức biểu đạt biểu cảm kết hợp với tự sự và miêu tả. - Ngôn ngữ thơ giản dị mộc mạc nhưng cô đọng và hàm súc, việc sử dụng sáng tạo các biện pháp tu từ: điệp ngữ, liệt kê, ẩn dụ tạo ấn tượng cho bài thơ. - Giọng thơ trầm lắng, thiết tha, chân thành. 4. Đánh giá: Ý kiến đúng đắn, là bài học cho người sáng tác và bạn đọc. 0,25 + Với người sáng tác: Người nghệ sĩ phải sống sâu sắc, gắn bó hết mình với cuộc đời chung để những tình yêu mở ra trong mỗi vần thơ là những tình cảm mang ý nghĩa nhân văn cao đẹp. Đồng thời, anh cũng phải có thực tài, thực tâm, không ngừng trau dồi năng lực nghệ thuật, phẩm chất thẩm mĩ của mình để mỗi bài thơ không chỉ dạt dào, lắng đọng triết lí, tình cảm mà còn đạt đến độ cô đúc, độc đáo của ngôn từ, trở thành những sứ giả tin cậy. + Với người tiếp nhận phải thực sự sống cùng tác phẩm, mở rộng tâm hồn để trái tim cùng giao thoa nhịp đập với trái tim thi sĩ. Bên cạnh đó, phẩm chất nghệ thuật, sự nhạy bén với cái đẹp và sự sáng tạo không chỉ đòi hỏi ở nhà thơ mà chính bạn đọc trong quá trình khám phá tác phẩm cũng cần đến để cảm thụ vẻ đẹp nghệ thuật một cách hiệu quả nhất, góp phần hoàn thiện đời sống của thi phẩm.
- 3. Kết bài 0,5 - Khẳng định lại giá trị tác phẩm. Liên hệ. d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau - Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận. 0,5 - Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đúng, bằng chứng tiêu biểu phù hợp, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và bằng chứng. - L ưu ý: Học sinh có thể trình bày suy nghĩ, quan điểm riêng nhưng phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật. e. Sáng tạo: có cách diễn đạt mới mẻ, thể hiện suy nghĩ sâu 0,5 sắc về VĐNL, biết vận dụng lí luận văn học trong quá trình phân tích, nhận xét, biết liên hệ với tác phẩm khác để làm nổi bật vấn đề nghị luận.

