Đề thi học sinh giỏi Ngữ văn 9 năm học 2024-2025 (Có đáp án)
Bạn đang xem tài liệu "Đề thi học sinh giỏi Ngữ văn 9 năm học 2024-2025 (Có đáp án)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
de_thi_hoc_sinh_gioi_ngu_van_9_nam_hoc_2024_2025_co_dap_an.docx
Nội dung text: Đề thi học sinh giỏi Ngữ văn 9 năm học 2024-2025 (Có đáp án)
- ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI NĂM HỌC 2024 – 2025 MÔN: NGỮ VĂN Thời gian làm bài: 150 phút(không kể thời gian giao đề) Đề thi gồm 02 trang. Học sinh làm bài vào tờ giấy thi. I. PHẦN ĐỌC HIỂU (2,0 điểm) Đọc đoạn thơ sau: Cha kể con nghe về những ngày xưa Cổ tích rừng sâu hoàng tử cưỡi ngựa đi tìm công chúa Cổ tích của cha... là khi cầm lấy bàn tay be bé Nghe tiếng trống vỗ con con thúc lồng ngực mỉm cười Chẳng cần con là vĩ nhân đâu... cha chỉ cần con là con thôi Biết chập chững gọi cha, biết bi bô đòi mẹ Biết khóc khi khổ đau biết cười giòn tan khi mạnh mẽ Biết xúc cơm ăn biết lấy nước uống khi khát miệng thôi mà [...] Báu vật ơi! Thương con mong manh Ngủ đi chiều nay giông bão về cha đã khoá chặt then cửa Canh cho giấc mộng vẹn tròn... ừ! Cha sợ Làm sao dai dẳng cùng con đến hết kiếp người Chỉ cần con là người bình thường thôi Xin đánh đổi tất cả những gì cha có. (Trích Chỉ cần con là người bình thường thôi, Nồng Nàn Phố, Thực hiện các yêu cầu: Câu 1. (1,0 điểm) Phân tích hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ điệp ngữ được sử dụng trong những dòng thơ sau: Chẳng cần con là vĩ nhân đâu... cha chỉ cần con là con thôi Biết chập chững gọi cha, biết bi bô đòi mẹ Biết khóc khi khổ đau biết cười giòn tan khi mạnh mẽ Biết xúc cơm ăn biết lấy nước uống khi khát miệng thôi mà Câu 2. (1,0 điểm) Thông điệp nào trong văn bản có ý nghĩa nhất đối với em? Vì sao? II. PHẦN VIẾT (8,0 điểm) Câu 1. (3,0 điểm) Em hãy viết bài văn nghị luận với chủ đề: Tư duy khác biệt giúp bứt phá vượt trội. Câu 2. (5,0 điểm) Bàn về thơ, tác giả Nguyễn Đình Thi cho rằng: Thơ là tiếng nói đầu tiên, tiếng nói thứ nhất của tâm hồn khi đụng chạm tới cuộc sống. Viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của em về ý kiến trên qua việc phân tích bài thơ Không có gì tự đến đâu con của Nguyễn Đăng Tấn. KHÔNG CÓ GÌ TỰ ĐẾN ĐÂU CON Không có gì tự đến đâu con Quả muốn ngọt phải tháng ngày tích nhựa Hoa sẽ thơm khi trải qua nắng lửa Mùa bội thu trải một nắng hai sương. Không có gì tự đến dẫu bình thường
- Phải bằng cả đôi tay và nghị lực Như con chim suốt ngày chọn hạt Năm tháng bao dung nhưng khắc nghiệt lạ kì. Dẫu bây giờ bố mẹ - đôi khi Có nặng nhẹ yêu thương và giận dỗi Có roi vọt khi con hư và dối Thương yêu con đâu đồng nghĩa với chiều. Đường con đi dài rộng rất nhiều Năm tháng nụ xanh giữ cây vươn thẳng Trời xanh đấy, nhưng chẳng bao giờ lặng Chỉ có con mới nâng nổi chính mình. Chẳng có gì tự đến - Hãy đinh ninh. (Trích Lời ru vầng trăng, Nguyễn Đăng Tấn,NXB Lao Động, 2000, tr.42) * Chú thích: - Nguyễn Đăng Tấn là một nhà báo, một nhà thơ với phong cách thơ bình dị nhưng giàu chất triết lí, thể hiện những suy ngẫm, trăn trở về tình yêu thương, về lẽ sống của con người. - Bài thơ “Không có gì tự đến đâu con”, được nhà thơ Nguyễn Đăng Tấn viết tặng con là Nguyễn Đăng Tiến vào khoảng năm 1995, khi Tiến đang học lớp 3. Bài thơ được in trong tập thơ “Lời ru vầng trăng”, xuất bản năm 2000. --------- Hết ---------
- HƯỚNG DẪN CHẤM ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI NĂM HỌC 2024 – 2025 MÔN: NGỮ VĂN Phần Câu Nội dung Điểm I 1 - Biện pháp điệp ngữ: Biết 0,25 - Tác dụng: 0,75 + Nhấn mạnh đến những ước muốn của cha về con: Không cần con phải là người vĩ đại chỉ cần con là người bình thường (biết vui buồn, mạnh mẽ,...) + Thấy được tình yêu thương con của người cha. + Tạo nhịp điệu cho lời thơ, làm cho đoạn thơ sinh động, gợi cảm, hấp dẫn người đọc, người nghe . 2 - HS nêu thông điệp ý nghĩa nhất. 1,0 - Lí giải phù hợp. II VIẾT 1 a.Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận về một sự việc hiện tượng đời 0,25 sống. - Đủ 3 phần mở bài, thân bài, kết bài; luận điểm rõ ràng, lập luận chặt chẽ, các ý được sắp xếp theo một trình tự hợp lí. - Chữ viết cẩn thận, rõ ràng, bài văn trình bày sạch sẽ, không mắc lỗi chính tả, lỗi diễn đạt. b. Sáng tạo: Nhận thức sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt 0,25 sáng tạo, đảm bảo tính hoàn chỉnh văn bản c. Triển khai vấn đề nghị luận: Vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng. Thí sinh có thể triển khai vấn đề nghị luận theo nhiều cách nhưng về cơ bản, cần nêu được suy nghĩ của cá nhân mình về vấn đề cần nghị luận. Có thể triển khai theo hướng sau: * Giải thích: 0,5 - Giải thích từ ngữ “tư duy khác biệt”: là tư duy riêng, độc đáo, thường gắn với tính mới mẻ, sáng tạo, vượt ra khỏi cái cũ kĩ, những lối mòn Tính khác biệt có thể được thể hiện ở nhận thức, suy nghĩ, quan điểm, lối sống, hành động, cách ứng xử của bản thân với người khác. - Bứt phá vượt trội: vượt lên những giới hạn, đạt được những thành quả xuất sắc. -> Ý kiến trên đã nhấn mạnh vai trò của tư duy khác biệt, khẳng định tính đột phá mạnh mẽ của nó. * Bàn luận: Đây là một ý kiến đúng đắn. - Tại sao cần “tư duy khác biệt” 1,0 Sống giữa cộng đồng, con người dễ bị ảnh hưởng bởi lối tư duy quen thuộc, hướng theo những giá trị có sẵn, những tiếng nói chung. Nó sẽ tạo ra sự an toàn, đơn giản, dễ được chấp nhận. Tuy nhiên việc suy nghĩ giống nhau lâu dần sẽ tiềm ẩn nguy cơ làm triệt tiêu tinh thần phản biện, làm cùn mòn lối nghĩ, thiếu tính sáng tạo, mới mẻ. Từ đó hạn chế việc hình thành những giá trị mới, kìm hãm sự phát triển của bản thân nói riêng và cộng đồng, xã hội nói chung. - Tại sao “Tư duy khác biệt giúp bứt phá vượt trội” + Tư duy khác biệt giúp con người luôn vận động trong suy nghĩ, khơi thức được nội lực tinh thần mạnh mẽ; thể hiện được tính cách, bản
- sắc riêng, không bị hòa tan trong đám đông, vừa khẳng định giá trị, vừa mang đến sự phong phú, thú vị cho đời sống. Chính sự khác biệt còn thể hiện tầm nhìn và mang đến những hành động, giải pháp đột phá cho con người. + Tư duy khác biệt được thể hiện trên mọi phương diện trong cuộc sống: học tập, lao động, ứng xử, giao tiếp Nó là kết quả của hành trình không ngừng bồi đắp, làm đầy tri thức, biết quan sát và không ngừng phát huy bản lĩnh, tinh thần sáng tạo của bản thân. + Tư duy khác biệt tạo ra những giá trị đi trước sự phát triển của thời đại, đáp ứng nhu cầu của xã hội; tạo cơ hội đến với những thành công, những bước ngoặt lớn lao cho xã hội. * Mở rộng vấn đề 0,5 + Phê phán lối tư duy lập dị, đi ngược với chuẩn mực đạo đức, thuần phong mĩ tục, pháp luật; + Phê phán lối tư duy đám đông, không dám thể hiện tiếng nói riêng của mình hoặc luôn phủ nhận những tư duy khác biệt. * Bài học nhận thức và hành động 0,5 - Tư duy mang tính khác biệt nhưng sự khác biệt đó cần được khởi đầu từ gốc rễ nhân văn, từ tâm thế sống tích cực, từ tinh thần đóng góp để kiến tạo nên những giá trị chân chính và có ý nghĩa lâu bền. Mỗi cá nhân là một sự khác biệt, nhưng sự khác biệt không được bứt rời khỏi những giá trị cốt lõi, đẹp đẽ trong xã hội. - Mỗi cá nhân cần trau dồi tri thức và bản lĩnh sống, nỗ lực tạo nên sự khác biệt độc đáo của bản thân, đồng thời cũng phải thấu hiểu, tôn trọng, cổ vũ sự khác biệt của người khác. - Tư duy khác biệt có thể gặp phải những rào cản, những thất bại ban đầu Do đó cần có bản lĩnh, ý chí kiên định, cần cái đầu sáng và trái tim nhiệt huyết 2 Viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của em về ý kiến trên qua 5,0 việc phân tích bài thơ Không có gì tự đến đâu con của Nguyễn Đăng Tấn. Kĩ a. Đảm bảo cấu trúc bài văn năng - Câu này kiểm tra năng lực viết bài nghị luận văn học của thí sinh; đòi hỏi thí sinh phải huy động kiến thức về lí luận văn học, tác phẩm văn học, kĩ năng tạo lập văn bản, khả năng cảm nhận văn chương của mình để làm bài. - Thí sinh có thể cảm nhận và kiến giải theo những cách khác nhau, nhưng 0,5 phải có lí lẽ, căn cứ xác đáng. b. Chính tả, ngữ pháp Đảm bảo đúng chính tả, ngữ pháp, không mắc lỗi diễn đạt (dùng từ, đặt câu). Kiến a. Mở bài 0,5 thức - Dẫn dắt, giới thiệu vấn đề nghị luận. b. Thân bài. * Giải thích ý kiến: 0,25 - Thơ là hình thức sáng tác nghệ thuật lấy ngôn từ làm chất liệu để diễn tả những xúc cảm trào dâng nơi tâm hồn nhà thơ. “Tiếng nói đầu tiên, tiếng nói thứ nhất”: là những rung động mãnh liệt bật ra trong một phút thăng hoa trước cuộc đời. “Đụng chạm tới cuộc sống”: là lúc người nghệ sĩ đối diện, thâm nhập vào đời sống để hiểu đời, hiểu
- người, từ đó đưa vào thơ, tạo nên những dòng cảm xúc bất tận. Nguyễn Đình Thi khẳng định vai trò của hiện thực và cảm xúc đối với người làm nghệ thuật nói chung cũng như làm thơ nói riêng. Đây là đặc trưng cơ bản của thơ về nội dung tư tưởng: Thơ ca bắt nguồn từ tình cảm, tâm tư và cũng là công cụ để bộc lộ tình cảm mãnh liệt trước hiện thực, trước cuộc đời. *Phân tích và chứng minh qua bài thơ “Không có gì tự đến đâu con” -Nguyễn Đăng Tấn. + Luận điểm 1: Bài thơ “Không có gì tự đến đâu con” là tiếng nói 1,25 đầu tiên, tiếng nói thứ nhất của tâm hồn nhà thơ Nguyễn Đăng Tấn khi chạm tới cuộc sống: Đó là lời tâm tình, nhắn nhủ của người cha với đứa con yêu thương của mình. ++ Cha nói với con về quy luật của tự nhiên và quy luật khách quan của cuộc sống: Mọi thành quả không tự nhiên mà có, các sự vật trong tự nhiên phải trải qua thử thách khắc nghiệt cũng như con người phải có ý chí nghị lực, sự kiên trì mới dành được những điều tốt đẹp. +++ Điệp ngữ “Không có gì tự đến” xuất hiện nhiều lần ở đầu các khổ thơ, nhấn mạnh và khắc sâu tư tưởng xuyên suốt toàn bài. Mọi việc trên đời đều có nhân quả, lý do riêng của nó. +++ Tác giả dùng lối điệp cấu trúc câu, mỗi câu thơ đậm tính triết lý gồm hai vế: Vế trước là kết quả, mục đích, vế sau là nguyên nhân. Để có mùa màng bội thu “quả muốn ngọt”, “hoa sẽ thơm”, “mùa bội thu” con người phải trải qua bao vất vả, một nắng hai sương. Điệp từ “trải”, hình ảnh biểu tượng “nắng lửa” nhấn mạnh những khó khăn, khắc nghiệt mà thế giới tự nhiên hay con người phải trải qua. (HS lấy dẫn chứng). +++ Để thành công, dẫu chỉ là công việc bình thường, con người cũng phải đánh đổi bằng sức lao động và nỗ lực của bản thân. Phép so sánh giàu sức gợi hình, gợi cảm “Như con chim suốt ngày chọn hạt” cụ thể hóa sự cần mẫn, tỉ mỉ của loài chim. Từ đó, người cha khuyên con cũng phải có sự chăm chỉ, kiên trì như vậy mới đạt thành quả. Với nghệ thuật nhân hóa, nhà thơ thể hiện cách nhìn đa chiều “Năm tháng bao dung nhưng khắc nghiệt lạ kỳ”, cuộc sống vốn bao dung nhưng cũng chứa đầy thử thách (HS lấy dẫn chứng). ++ Cha nói với con về tình cảm gia đình, mong con hiểu được tâm tình của cha mẹ. +++ Độ tuổi của con còn thơ trẻ, hồn nhiên, có lúc còn ham chơi “hư và dối”, chưa hiểu hết được những qui luật của cuộc sống. Vì thế, bổn phận người làm cha mẹ phải biết linh hoạt, cương nhu trong uốn nắn, dạy bảo con: “nặng nhẹ”, “yêu thương”, “roi vọt” +++ Cha mẹ tin rằng con sẽ hiểu được tấm lòng và tình yêu thương của cha mẹ. Cha yêu thương con, là chỗ dựa vững chắc cho con nhưng không nuông chiều. (HS lấy dẫn chứng). ++ Cha nhắn nhủ: con hãy giữ vững tinh thần, ý chí và nghị lực, hãy luôn tin vào bản thân mình và không ngừng nỗ lực vươn lên. +++ Cha vạch rõ con đường phía trước của con “dài rộng rất nhiều” nhưng điều quan trọng là con phải biết “giữ cây vươn thẳng”, tự giác và nghiêm khắc với bản thân. Các hình ảnh ẩn dụ “Đường con đi dài
- rộng”, “năm tháng nụ xanh giữ cây vươn thẳng”, ‘Trời xanh chẳng bao giờ lặng” nhằm khẳng định đường đời lắm gian nan, con phải có ý chí, bản lĩnh, không được cúi đầu trước khó khăn, cám dỗ của cuộc đời. Ý thơ là lời răn dạy: Không ai có thể sống thay con, chỉ có con mới quyết định được tương lai cuộc đời của mình. +++ Khổ thơ cuối đặc biệt bởi chỉ có một dòng thơ ngắn kết hợp dấu gạch ngang gợi suy ngẫm về những điều cha dạy mà con cần khắc cốt ghi tâm. Từ láy “đinh ninh” như một lời trao gửi thiêng liêng của thế hệ cha anh, nhẹ nhàng mà vô cùng sâu sắc, thấm thía. (HS lấy dẫn chứng). => Qua bài thơ người đọc cảm nhận được tình yêu thương con sâu nặng của người cha, sự trân trọng, tin yêu của nhà thơ vào tình cảm gia đình- một tình cảm thiêng liêng, cao đẹp. + Luận điểm 2: Tiếng nói đầu tiên, tiếng nói thứ nhất của tâm hồn trong bài thơ “Không có gì tự đến đâu con” của Nguyễn Đăng Tấn còn được thể hiện qua hình thức nghệ thuật đặc sắc. 1,0 ++ Sử dụng thể thơ tự do phù hợp với việc diễn tả những lời thủ thỉ, tâm tình và dặn dò thiết tha, sâu lắng của người cha dành cho con. ++ Hình ảnh bình dị, gần gũi nhưng giàu ý nghĩa biểu tượng, mang tính khái quát cao, phù hợp những suy tư, cách nhìn có chiều sâu về cuộc sống của người cha. ++ Ngôn ngữ trong sáng, biểu cảm, giọng điệu tha thiết, sâu lắng nhưng trang nghiêm, tự hào ... ++ Các phép tu từ ẩn dụ, so sánh, nhân hóa, điệp ngữ được sử dụng khéo léo, phát huy hiệu quả trong diễn đạt. * Đánh giá, nâng cao. + Ý kiến mà Nguyễn Đình Thi đưa ra là hoàn toàn đúng đắn và sâu 0,75 sắc. Mỗi tác phẩm bắt nguồn và lấy cảm hứng từ cuộc đời. Quá trình sáng tạo nghệ thuật không kết thúc ở việc tác phẩm được khai sinh mà còn ở quá trình tác phẩm sống trong lòng người đọc. Tiếng nói đầu tiên trong tâm hồn nhà thơ sẽ giúp người đọc tiếp cận tác phẩm bằng tất cả những rung dộng. Đồng thời qua những cảm xúc đẹp của người nghệ sĩ, bạn đọc cảm nhận, khám phá cuộc sống ở mọi tầng bậc + Bài học dành cho người sáng tác và người tiếp nhận: ++ Với người sáng tác: Nhà thơ cần sáng tạo những tác phẩm nghệ thuật đích thực bằng cái tình, cái tài, sự tâm huyết và cả những trăn trở để tìm được tiếng nói riêng, tiếng nói tri âm cùng bạn đọc. Tác phẩm ấy phải là sự rung động mãnh liệt của cảm xúc trước hiện thực cuộc sống. ++ Với người tiếp nhận: Người đọc thấu hiểu những tâm tư, tình càm mà người nghệ sĩ gửi gắm trong tác phẩm. Bạn đọc cần nâng niu, trân quý những tình cảm cao đẹp mà người nghệ sĩ gửi gắm. Đó chính là quá trình đi tìm tâm hồn đồng điệu cùng người nghệ sĩ chân chính. c. Kết bài: Khẳng định vấn đề vấn đề nghị luận. 0,5 d. Sáng tạo: Bố cục mạch lạc, lời văn thuyết phục, sinh động, sáng 0,25 tạo.

