Đề thi chọn học sinh giỏi cấp Huyện Ngữ văn Lớp 9 Năm học 2024-2025 (Có đáp án)

docx 11 trang Bách Hào 12/08/2025 40
Bạn đang xem tài liệu "Đề thi chọn học sinh giỏi cấp Huyện Ngữ văn Lớp 9 Năm học 2024-2025 (Có đáp án)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxde_thi_chon_hoc_sinh_gioi_cap_huyen_ngu_van_lop_9_nam_hoc_20.docx

Nội dung text: Đề thi chọn học sinh giỏi cấp Huyện Ngữ văn Lớp 9 Năm học 2024-2025 (Có đáp án)

  1. MÃ KÍ HIỆU ĐỀ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI CẤP HUYỆN [*****] LỚP 9 - Năm học 2024-2025 MÔN : NGỮ VĂN Thời gian làm bài: 150 phút ( Đề thi gồm 4 câu, 02.trang) I.PHẦN ĐỌC HIỂU (2,0 điểm) Đọc văn bản sau: Những ngọn gió đồng Rời phố phường tôi gặp ngọn gió quê Gió thổi một thổi đôi thổi như dắt tôi đi giữa những bầy gió chạy Tôi đông cứng gió thổi tôi mềm lại Để như sông dào dạt phía ruộng đồng Tôi trở về gặp buổi chiều mẹ vục bóng vào sông Gió thổi áo nâu mềm lại ngày muối mặn Thổi buốt tháng năm thổi tràn ký ức Thổi mát những đau buồn còn nằm khuất đâu đây Những vạt cỏ vơi hương gió thổi lại đầy Ôi mùi hương của cỏ gầy tinh khiết Đời đất cát lên hương từ đất cát Nên mới thơm chân thật đến ngọt ngào Gió chẳng bao giờ thổi tới trăng sao Nhưng gió biết thổi cho nhau biết tự mình mở lối Ôi những ngọn gió quê muốn gim tôi vào đồng nội Tôi bước ngược cánh đồng gió lại thổi ngược tôi. ( Trích Những ngọn gió đồng, Bình Nguyên, Tập thơ, 2016, NXB Hội nhà văn ) Chú thích: *Giới thiệu tác giả: Bình Nguyên: Tên thật là Nguyễn Đăng Hào, sinh năm 1959. Quê: Phường Ninh Phúc, thành phố Ninh Bình. Ông là hội viên Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Ninh Bình, chủ tịch hội Văn học nghệ thuật tỉnh Ninh Bình, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Sự nghiệp văn chương của Bình Nguyên gắn liền với những tác phẩm thể hiện tâm tư, suy nghĩ của con người trong bối cảnh xã hội biến động. Ông thường khai thác những chủ đề về cuộc sống, tình yêu, và nỗi đau, mang đến cho bạn đọc những trải nghiệm sâu sắc về nhân sinh. * Giới thiệu tác phẩm: Bài thơ Những ngọn gió đồng được viết vào thàng 8 năm 2012.Tác phẩm không chỉ mang đến những hình ảnh đẹp của quê hương mà còn thể hiện sự trăn trở về thân phận con người trong dòng chảy của thời gian. Với ngôn ngữ trau chuốt và sâu sắc,
  2. tác phẩm khắc họa rõ nét những cảm xúc, nỗi niềm của nhân vật chính, đồng thời gợi lên những suy tư về cuộc sống, tình yêu và sự mất mát. *Hoàn cảnh sáng tác: "Những ngọn gió đồng" ra đời trong bối cảnh Việt Nam sau giai đoạn chiến tranh, khi xã hội đang tìm kiếm những giá trị mới và ổn định sau những biến động. Đây là thời kỳ mà nhiều tác giả tìm về cuộc sống thường nhật, và sự bình yên trong tâm hồn. Bình Nguyên đã tạo ra một tác phẩm mang tính nhân văn sâu sắc, phản ánh niềm khao khát về một cuộc sống tươi đẹp và ý nghĩa, đồng thời thể hiện những nỗi đau và sự mất mát của con người trong hành trình tìm kiếm bản thân và hạnh phúc. Tác phẩm đã góp phần khẳng định tài năng và phong cách sáng tác độc đáo của Bình Nguyên, đồng thời làm giàu thêm kho tàng văn học Việt Nam đương đại. Thực hiện các yêu cầu: Câu 1. (1.0 điểm). Phân tích hiệu quả biểu đạt của biện pháp tu từ nhân hoá được sử dụng trong những câu thơ: “Gió chẳng bao giờ thổi tới trăng sao Nhưng gió biết thổi cho nhau biết tự mình mở lối” Câu 2. (1,0 điểm) Thông điệp nào từ văn bản có ý nghĩa nhất đối với em? Vì sao? II. PHẦN VIẾT (8,0 điểm) Câu 1 (3,0 điểm) Từ bài thơ “Những ngọn gió đồng”, Bình Nguyên, em hãy viết một bài văn nghị luận với chủ đề: Sự cần thiết phải trân quý những điều bình dị của cuộc sống. Câu 2 (5,0 điểm) Chế Lan Viên trong “Nghĩ về thơ” cho rằng: Thơ không chỉ đưa ru mà còn thức tỉnh. Viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của em về ý kiến trên qua việc phân tích bài thơ “Những ngọn gió đồng” của Bình Nguyên --------------------------------HẾT------------------------------------- MÃ KÍ HIỆU ĐÁP ÁN ĐỀ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI CẤP HUYỆN [*****] Lớp 9 - Năm học 2024 - 2025 MÔN: NGỮ VĂN (Hướng dẫn chấm gồm 6 trang) PHẦN I CÂU YÊU CẦU CẦN ĐẠT ĐIỂM I 1 - BPTT Nhân hoá: “gió biết thổi cho nhau biết tự mình mở lối”
  3. Hiệu quả: 0,25 - Làm cho lời thơ trở nên sinh động, giàu hình ảnh và cảm 0,75 xúc - Nhấn mạnh và làm nổi bật hình ánh “gió” vẫn chỉ là gió- sự vật, nhưng khi đã biết thổi cho nhau, biết tự mình mở lối thì “gió” là hình ảnh của những con người biết hy sinh, sẻ chia, đồng cảm, biết sống, biết cho, biết yêu thương, biết tự mình vươn lên. Gió hay chính người quê đã đạt đến chân thiện. - Bộc lộ sự trân quý, tự hào của tác giả về những điều bình dị hòa trong tình yêu quê hương, cội nguồn. Câu 2: PHẦN ĐIỂM CÂU YÊU CẦU CẦN ĐẠT I HS rút ra thông điệp ý nghĩa nhất cho bản thân từ bài thơ, lí giải cụ thể (dựa vào trải nghiệm và quan điểm sống của bản thân) thuyết phục cho điểm tối đa . -Nội dung: Hs nêu được một thông điệp phù hợp với nội dung 0,25 I 2 của văn bản. (Gợi ý: Trân trọng kí ức, quá khứ, yêu tự hào những gì gần gũi, những điều bình dị trong cuộc sống .) 0,75 Giải thích được hợp lí. Học sinh viết theo cách suy nghĩ của mình, giáo viên linh động cho điểm. II. PHẦN VIẾT (8,0 điểm) PHẦN CÂU YÊU CẦU CẦN ĐẠT ĐIỂM Từ bài thơ “Những ngọn gió đồng”, Bình Nguyên, em hãy II viết một bài văn nghị luận với chủ đề: Sự cần thiết phải trân 3,0 1 quý những điều bình dị của cuộc sống. a. Đảm bảo cấu trúc của bài văn nghị luận xã hội. 0,25 b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: 0,25 c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề của bài viết. - Xác dịnh được các ý chính của bài viết
  4. - Sắp xếp được hệ thống các ý hợp lý theo bố cục 3 phần của bài văn nghị luận 1. Mở bài 0,25 - Dẫn dắt vào vấn đề: 2. Thân bài: Triển khai vấn đề nghị luận - Thể hiện quan điểm của người viết có thể theo 1 số gợi ý sau: a.Giải thích vấn đề : - Trân trọng những điều bình dị quanh ta: là việc mỗi người 0,25 yêu thương những điều xung quanh từ những thứ nhỏ nhặt nhất, từ đó thêm yêu cuộc sống của mình và sống yêu thương, có ích hơn để giúp cho xã hội phát triển bền đẹp hơn. b. Bàn luận vấn đề: 1,0 - Khẳng định tính đúng đắn của vấn đề: + Việc trân trọng những điều bình dị quanh ta vô cùng quan trọng và cần thiết trong cuộc sống mỗi người, nó giúp cho cuộc sống của ta thêm tốt đẹp hơn, con người sống hạnh phúc hơn, bình yên hơn. + Trân trọng những điều bình dị quanh ta là việc chúng ta yêu thương, nâng niu những điều nhỏ nhặt nhất trong cuộc sống, đó có thể là con đường đến trường, là ánh nắng, đám mây, là bạn bè, người thân xung quanh, là quyển sách, cây bút chúng ta đang có, + Người biết trân trọng những điều bình dị quanh ta là người có cuộc sống tràn đầy năng lượng tích cực, tràn đầy niềm vui, sống với nhiệt huyết và luôn cảm thấy cuộc đời tươi đẹp. Trân trọng những điều bình dị quanh ta giúp cho chúng ta nhìn cuộc đời bằng lăng kính, bằng góc nhìn tươi vui khiến ta có động lực để làm mọi việc dễ dàng hơn. + Việc trân trọng những điều bình dị quanh ta giúp ta biết sử dụng thời gian một cách hợp lí, tạo ra nhiều của cải vật chất có giá trị cho bản thân cũng như cống hiến cho xã hội và giúp ta biết cân bằng giữa làm việc và tận hưởng cuộc sống tối đa. - Dẫn chứng
  5. Học sinh tự lấy dẫn chứng về những con người biết trân trọng cuộc sống, sống trọn vẹn từng khoảnh khắc làm ví dụ minh họa cho bài làm văn của mình. - Phản đề Tuy nhiên, trong xã hội vẫn còn có những người chưa biết trân trọng cuộc sống bình dị quanh mình, sống với những ước mộng cao xa mà bỏ quên những giá trị tốt đẹp của hiện tại. Lại có những người sống bi quan, không coi trọng cuộc sống hiện tại, không hài lòng với những thứ bản thân mình đang có, Những người này dễ đánh mất bản thân và vấp ngã trong cuộc sống. - Mở rộng vấn đề: Tuy nhiên, chúng ta cần phân biệt việc biết trân trọng những 0,25 điều bình dị hoàn toàn khác với lối sống cẩu thả, lạc hậu, gò bó, khuôn mẫu. * Bài học nhận thức và hành động: - Mỗi người học sinh chúng ta trân trọng những giá trị bình dị quanh mình bằng cách cố gắng học tập, rèn luyện bản thân để trở thành một công dân tốt. - Sống yêu thương, chan hòa với những người xung quanh, sẵn sàng cho đi, san sẻ, giúp đỡ người khác. 3. Kết bài: - Khẳng định lại vấn đề nghị luận. 0,25 - Liên hệ bản thân. d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau - Lựa chọn được các thao tác lập luận , phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận . 0,25 - Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đúng, bằng chứng tiêu biểu phù hợp, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và bằng chứng *Lưu ý: Học sinh có thể trình bày suy nghĩ, quan điêm riêng nhưng phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật 0,25
  6. e. Sáng tạo: có cách diễn đạt mới mẻ, thể hiện suy nghĩ sâu sắc về VĐNL PHẦN CÂU YÊU CẦU CẦN ĐẠT ĐIỂM Chế Lan Viên trong “Nghĩ về thơ” cho rằng: Thơ không chỉ đưa ru mà còn thức tỉnh. II 2 Viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của em về ý kiến 5,0 trên qua việc phân tích bài thơ “Những ngọn gió đồng” của Bình Nguyên a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài nghị luận văn học. 0,25 b. Xác định đúng yêu vấn đề cần nghị luận : 0,25 c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề của bài viết. - Xác dịnh được các ý chính của bài viết - Sắp xếp được hệ thống các ý hợp lý theo bố cục 3 phần của bài văn nghị luận *Giới thiệu vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm của 0,5 cá nhân về vấn đề. * Triển khai vấn đề nghị luận - Thể hiện quan điểm của người viết có thể theo 1 số gợi 3,0 ý sau: a.Giải thích nhận định: * Lí giải: - Thơ: là hình thức nghệ thuật dùng ngôn ngữ giàu hình ảnh, có nhịp điệu, vần điệu để thể hiện nội dung một cách hàm súc. 0,5 - đưa ru: là nói đến sự vỗ về, vừa là nhịp, vừa là những lời êm ái, ru ngủ con người. Nói rộng ra là cảm xúc, tình cảm là nhịp điệu và nhạc điệu của thơ. Đó chính là đặc trưng cơ bản nhất, là cái gốc của thơ ca - thức tỉnh: là làm cho con người ta “tỉnh ra, nhận ra lẽ phải và thoát khỏi tình trạng mê muội, sai lầm”, là “gợi ra, làm trỗi
  7. dậy cái tiềm tàng trong mỗi con người” là tác động vào nhận thức, trí tuệ, suy tưởng, triết lí, tính tư tưởng của thơ ca. => Về nội dung, thực chất ý kiến của Chế Lan Viên bàn về chức năng của thơ ca; sự gắn kết của cảm xúc và tư tưởng trong thơ: Thơ không chỉ lay động cảm xúc con người mà còn thức tỉnh lí trí, giúp con người nhận thức về cuộc sống, về con người và chính mình. 3. Phân tích, chứng minh: Làm rõ ý kiến qua bài thơ Những ngọn gió đồng của Bình Nguyên * Bàn luận: 0,25 - Vì sao thơ không chỉ đưa ru mà còn thức tỉnh? + Thơ là thể loại trữ tình nghiêng về biểu hiện tâm hồn, tình cảm của người nghệ sỹ bằng hệ thống ngôn từ có cảm xúc, gợi hình, biểu cảm và giàu tính nhạc. Không chỉ thế giá trị của thơ còn thể hiện ở giá trị tư tưởng,” nhà thơ đồng thời cũng là nhà tư tưởng” tư tưởng thơ còn có khả năng thức tỉnh trí tuệ, lay động nhận thức người đọc. Vì vậy chức năng của thơ không chỉ “đưa ru”làm lay động cảm xúc mà còn “thức tỉnh”nhận thức, tư tưởng người đọc - Mối quan hệ giữa chức năng “đưa ru” và chức năng “thức tỉnh”: Ở những bài thơ xuất sắc thường có sự thống nhất hài hoà giữa cảm xúc và trí tuệ, cảm xúc gắn với suy tưởng triết lí. Nếu chỉ có cảm xúc, chỉ “đưa ru” thì thơ có thể rơi vào tình trạng hời hợt, nông cạn. Ngược lại, nếu chỉ có trí tuệ, chỉ “thức tỉnh” thì thơ có thể sẽ dễ trở nên khô khan. Vì vậy, dẫu có nhấn mạnh vai trò của nhận thức, của trí tuệ, thì cũng không thể xa rời đặc trưng cơ bản nhất của thơ ca là tình cảm, cảm xúc, là những rung động tâm hồn. Thơ tác động, thức tỉnh theo cách riêng: bằng cách khiến ta xúc động, thông qua ngôn ngữ giàu hình ảnh, nhạc tính, giàu sức biểu cảm. - Đây là một quan niệm thơ đúng đắn, sâu sắc của Chế Lan Viên. Đây cũng là khuynh hướng phát triển của mọi nền thơ hiện đại. * Khái quát tác giả, tác phẩm - Tác giả: Bình Nguyên là một trong những nhà thơ tiêu biểu của thơ ca Việt Nam đương đại. - Tác phẩm: Bài thơ Kính
  8. gửi mẹ được viết vào tháng 8 năm 2012, in trong tập thơ cùng tên, NXB Hội nhà văn ấn hành, năm 2016. * Phân tích bài thơ - Những ngọn gió đồng của Bình Nguyên là bài thơ “đưa ru” người đọc: + Ngọn gió vô tri đã kéo người đi xa trở về hoà mình cùng không gian của thiên nhiên hòa mình thành dòng sông quê hương dạt dào dâng hiến phù sa cho đồng ruộng: ( trích dẫn thơ khổ 1) và phân tích. 1,0 . Hình ảnh nhân hóa sinh động “gió” gợi những so sánh liên tưởng thú vị đã làm nổi bật những chuyển biến trong tâm hồn nhân vật trữ tình. Ngọn gió vô tri đã kéo người đi xa trở về hoà mình cùng không gian của thiên nhiên hòa mình thành dòng sông quê hương dạt dào dâng hiến phù sa cho đồng ruộng + Gió dắt "tôi" về bên mẹ ( trích dẫn thơ khổ 2) và phân tích. . Hình ảnh người mẹ vục bóng vào sông cũng là khởi nguồn cho nỗi xúc động nghẹn ngào của nhân vật trữ tình khi chạm vào kí ức “ngày muối mặn”, “tháng năm buốt giá”, “những đau buồn”. Ngọn gió đồng trở thành ngọn gió mát lành an ủi, sẻ chia với những nhọc nhằn nơi thôn quê, thổi đi những buốt giá đời người. + Gió không chỉ làm dịu những ưu phiền, những vết thương, những vị cay, vị đắng nơi mảnh đất mình sinh ra, mà còn giúp ta cảm nhận quy luật sinh tồn, cái sức sống bền bỉ âm thầm: ( trích dẫn thơ khổ 2) và phân tích. + Gió có thể làm mềm, làm dịu mát, làm đầy, làm sáng, làm ấm những yêu thương, đánh thức lòng trắc ẩn, gợi những rung cảm nơi sâu thẳm tâm hồn? ( trích dẫn thơ khổ 4) và phân tích. . Và nhà thơ đã lý giải: Gió hay chính người quê đã đạt đến chân thiện đủ để làm mềm, làm tan chảy những tảng băng vô cảm vẫn tồn tại ngay trong mỗi con người. Sinh ra từ quê, rồi lại từ quê mà ra đi, những ngọn gió như muốn “ghim” muốn níu giữ "tôi" ở lại. - Những ngọn gió đồng của Bình Nguyên
  9. là bài thơ “không chỉ đưa ru mà còn thức tỉnh” người đọc về đạo lí sống, về bài học nhân sinh trong cuộc sống: + Ngọn gió đồng đã thức tỉnh con người về tình cảm hướng về quê hương, nguồn cội (khổ 1). + Ngọn gió đồng đã thức tỉnh con người về tình cảm đối với mẹ (khổ 2). + Ngọn gió đồng đã thức tỉnh con người khi nhìn lại bản thân. Phải chăng, khoảnh khắc con người nhận ra không gian thân thuộc với hương cỏ dại vẫn đầy ăm ắp, vẫn tinh khiết, chân 0,5 thật và ngọt ngào sau bao mùa mưa nắng ở thôn quê cũng là lúc con người có cơ hội nhìn lại chính mình trong những đổi thay. Liệu cái chân quê thật thà có còn nguyên vẹn trong ta? (khổ 3). + Ngọn gió đồng đã thức tỉnh con người về lối sống cao đẹp 0,5 biết sẻ chia, biết yêu thương đùm bọc “biết thổi cho nhau” vơi bớt những nhọc nhằn, buồn khổ; không chịu khuất phục trước những thử thách chông gai, “biết tự mình mở lối; thuỷ chung, gắn bó với đồng quê dù vạn vật có đổi thay (khổ 4). - Nghệ thuật cũng là yếu tố quan trọng góp phần tạo nên giá trị “đưa ru” và “thức tỉnh” trong bài thơ Những ngọn gió đồng của Bình Nguyên + Thể thơ tự do + Ngôn ngữ thơ giản dị + Hình ảnh thơ gần gũi + Nhịp thơ chậm mà chuyển, gần gũi mà lắng sâu, như lời tự bạch của chính mình + Giọng thơ tự sự, bắt đầu từ sự trở về, rồi với những ký ức, đến sự tự nhận thức và cuối cùng là cách luận, Những ngọn 0,25 gió đồng đã đưa người đọc đi từ cảm xúc này đến cảm xúc khác * Đánh giá. - Bài thơ Những ngọn gió đồng của Bình Nguyên không chỉ đưa ru- đưa người đọc đắm mình vào không gian của hoài
  10. niệm, của những cảm xúc chân thành, thiết tha mà còn đánh thức, khơi dậy những lẽ sống cao đẹp, những triết lí nhân sinh sâu sắc. Bài thơ đã chạm vào nơi thẳm sâu của tâm hồn, lay động tâm thức của người đọc bởi sự quyện hòa giữa vẻ đẹp cảm xúc và trí tuệ, cùng những hình thức biểu đạt phù hợp, giàu tính nghệ thuật. - Ý kiến của Chế Lan Viên ngắn gọn mà xác đáng, khẳng định được chức năng, ý nghĩa của thơ ca; sự gắn kết của cảm xúc và tư tưởng trong thơ. Cảm xúc không bắt vào trí tuệ sẽ hời hợt nông cạn, trí tuệ không dựa vào cảm xúc sẽ trở thành xa lạ, khô khan. - Ý kiến là bài học cho người sáng tác thơ, đồng thời có tác dụng định hướng cho người đọc trong quá trình tiếp nhận. + Bài học cho người nghệ sĩ: trong quá trình sáng tạo, nhà văn phải lao động miệt mài bằng cả trí óc và con tim, bằng cả tâm lực lẫn trí lực để cho ra đời những tác phẩm không chỉ “đưa ru” mà còn “thức tỉnh”. + Đối với bạn đọc: khi đọc tác phẩm không nên thờ ơ, hững hờ, hãy đọc bằng cả trái tim và trí tuệ để lĩnh hội được những điều mà người nghệ sĩ gửi gắm, để từ đó hoàn thiện nhân cách, sống tốt hơn, đẹp hơn. 3. Kết bài 0,5 - Khẳng định lại giá trị tác phẩm. Liên hệ. d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau - Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận . 0,25 - Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đúng, bằng chứng tiêu biểu phù hợp, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và bằng chứng * Lưu ý: Học sinh có thể trình bày suy nghĩ, quan điêm riêng nhưng phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật 0,25 e. Sáng tạo: có cách diễn đạt mới mẻ, thể hiện suy nghĩ sâu sắc về VĐNL, biết vận dụng lí luận văn học trong quá trình
  11. phân tích, nhận xét, biết liên hệ với tác phẩm khác để làm nổi bật vấn đề nghị luận Lưu ý chung 1. Đây là đáp án mở, thang điểm có thể không quy định chi tiết đối với từng ý nhỏ, chỉ nêu mức điểm của phần nội dung lớn nhất thiết phải có. 2. Chỉ cho điểm tối đa theo thang điểm với những bài viết đáp ứng đầy đủ những yêu cầu đã nêu mỗi câu, đồng thời phải được triển khai chặt chẽ, diễn đạt lưu loát, có cảm xúc. 3. Khuyến khích những bài viết có sáng tạo. Chấp nhận bài viết không giống đáp án, có những ý ngoài đáp án nhưng phải có căn cứ xác đáng và lí lẽ thuyết phục. 4. Không cho điểm cao đối với những bài chỉ nêu chung chung, sáo rỗng. 5. Cần trừ điểm đối với những lỗi về hành văn, ngữ pháp và chính tả.